danno_huynh
male - 36 years, Hue, Vietnam
Blog / TIẾN HOÁ CỦA TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VÙNG ĐỒNG BẰ
Wednesday, 1 October 2008 at 18:07
TIẾN HOÁ CỦA TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VÙNG ĐỒNG BẰNG QUẢNG TRỊ - THỪA THIÊN HUẾ
VŨ QUANG LÂN
Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Bắc, ái Mộ, Gia Lâm, Hà Nội
Tóm tắt: Qua phân tích và tổng hợp các tài liệu đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1: 50.000, 1: 25.000 và tài liệu liên quan với các trầm tích Đệ tứ ở vùng đồng bằng Quảng Trị - Thừa Thiên Huế, tác giả có một số nhận xét sau:
1) Ranh giới giữa Neogen và Đệ tứ vùng đồng bằng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế bước đầu được phân định trên cơ sở tài liệu về thạch học, cổ sinh, môi trường trầm tích và địa vật lý.
2) Các trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế có 9 kiểu nguồn gốc: sông - lũ (ap), sông (a), sông - đầm lầy (a
, sông - biển (am), sông - biển - đầm lầy (am
, biển - sông (ma), biển - sông - đầm lầy (ma
, biển - gió (mv) và biển (m) thuộc 6 phân vị địa tầng có tuổi từ Pleistocen sớm (Q11) đến Holocen muộn (Q23 ).
3) Tiến hoá của thành tạo trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế có liên quan chặt chẽ với sự thay đổi mực nước biển và các chuyển động kiến tạo nâng hạ địa phương.
Lịch sử tiến hoá của trầm tích Đệ tứ ở vùng đồng bằng Quảng Trị - Thừa Thiên Huế có thể chia làm 5 giai đoạn: - Giai đoạn Pleistocen sớm (Q11); - Giai đoạn Pleistocen giữa - Pleistocen muộn, phần sớm (Q12-3 ); - Giai đoạn Pleistocen muộn, phần muộn (Q13 ); - Giai đoạn Holocen sớm - giữa (Q21-2 ); - Giai đoạn Holocen giữa - muộn và Holocen muộn (Q22-3 và Q23 )
MỞ ĐẦU
Quá trình phát triển vùng đồng bằng Quảng Trị - Thừa Thiên Huế (QTTTH) gắn liền với lịch sử tiến hoá các thành tạo trầm tích Đệ tứ và bị khống chế bởi các tác nhân nội sinh và ngoại sinh. Trong các tác nhân này, đóng vai trò quyết định tới thành phần vật chất, nguồn gốc và bề dày trầm tích là các chuyển động kiến tạo địa phương và sự thay đổi mực nước biển liên quan với các kỳ băng hà, gian băng.
Trên cơ sở phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan với trầm tích Đệ tứ, bài báo đề cập đến lịch sử tiến hoá các thành tạo trầm tích Đệ tứ trong mối liên quan với sự thay đổi mực nước biển và chuyển động tân kiến tạo ở vùng đồng bằng QTTTH.
ĐẶC ĐIỂM CÁC TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ
1. Ranh giới Neogen / Đệ tứ
? đồng bằng QTTTH, ranh giới giữa các trầm tích Neogen và Đệ tứ (N/Q) bước đầu được phân chia theo lỗ khoan LK.Hu7 ở độ sâu 163 m, dựa trên các tài liệu sau [10]:
1. Về đặc điểm thạch học:
Có sự khác biệt khá rõ ràng giữa trầm tích ở trên và dưới ranh giới này. Trầm tích Neogen gồm cát kết xen bột kết, sét kết màu xám xanh, gắn kết yếu đến trung bình, phân lớp xiên khá rõ. Trầm tích Pleistocen sớm có thành phần là cuội sỏi, sạn lẫn cát bột sét màu xám vàng, bở rời. Thành phần độ hạt và các hệ số độ hạt của chúng cũng có sự khác biệt rõ ràng.
2. Về đặc điểm cổ sinh và môi trường trầm tích :
Các trầm tích Neogen chứa phong phú bào tử phấn hoa (BTPH): Rhizophora sp., Lithocarpus sp., Sonneratia sp., Quercus sp., Lygodium sp., Castanopsis sp., Michenia sp.... và vi cổ sinh (VCS): Cypredeis sp., Leptocythera sp., Cytherura sp.... tuổi Pliocen, còn ở phần thấp nhất của trầm tích Đệ tứ không có cổ sinh. Các kết quả phân tích địa hoá môi trường (pH: 7,37; cation trao đổi : 0,87) cũng cho thấy trầm tích Neogen được hình thành trong điều kiện cửa sông - ven biển, còn trầm tích ở phần thấp của Pleistocen sớm được hình thành trong điều kiện lục địa. Điều này phù hợp với quan niệm cho rằng vào đầu Pleistocen sớm, biển ở ngoài thềm lục địa hiện nay, phần lớn thềm lục địa bây giờ lúc đó là lục địa [5].
1.3. Về đặc điểm địa vật lý.
Các đường cong carota và các tham số địa vật lý có sự khác biệt khá rõ ràng ở trên và dưới ranh giới trầm tích N/Q (bảng 1)
Bảng 1. Bảng thống kê giá trị trung bình các tham số vật lý thuộc
các hệ tầng Tân Mỹ và Vĩnh Điện ở lỗ khoan Hu7.
Hệ tầng Cường độ xạ (g ) tự nhiên (%R/h) Cường độ xạ (g ) nhân tạo (%R/h) ĐTS hệ điện cực thế (W m) ĐTS hệ gradien (W m) Điện trường tự nhiên (mv)
Tân Mỹ (aQ11 tm ) 60 590 12 22 55
Vĩnh Điện ( Nvđ ) 96 630 10,1 8,5 49
ĐTS: điện trở suất
2. Phân chia trầm tích Đệ tứ.
Trên cơ sở các tài liệu địa chất và địa mạo, trầm tích Đệ tứ ở vùng nghiên cứu được phân chia thành 6 phân vị địa tầng có tuổi khác nhau [1]:
- Hệ tầng Tân Mỹ, tuổi Pleistocen sớm (Q11 tm)
- Hệ tầng Quảng Điền, tuổi Pleistocen giữa - Pleistocen muộn, phần sớm (Q12-3 qđ)
- Hệ tầng Phú Xuân, tuổi Pleistocen muộn, phần muộn (Q13 px)
- Hệ tầng Phú Bài, tuổi Holocen sớm - giữa (Q21-2 p
- Hệ tầng Phú Vang, tuổi Holocen giữa - muộn (Q22- 3 pv)
- Trầm tích hiện đại (Q23)
Bề dày trầm tích Đệ tứ tăng theo hướng từ rìa đồng bằng ra biển, bề dày lớn nhất đạt 163 m ở lỗ khoan Hu7 (cửa Thuận An)
3. Đặc điểm các kiểu nguồn gốc trầm tích.
Dựa theo thành phần vật chất, cổ sinh, địa hoá môi trường, các trầm tích Đệ tứ ở vùng nghiên cứu được phân chia thành 9 kiểu nguồn gốc : sông - lũ (ap), sông (a), sông - đầm lầy (a
, sông - biển (am), sông - biển - đầm lầy (am
, biển - sông (ma), biển - sông - đầm lầy (ma
, biển - gió (mv) và biển (m).
Trong cùng một phân vị địa tầng, các kiểu nguồn gốc trầm tích chuyển tướng ngang với nhau từ rìa đồng bằng ra biển theo xu hướng: a (ap, ab ) am (am
ma (ma
mv m .
3.1. Trầm tích sông - lũ (ap).
Trầm tích sông - lũ có ở 3 hệ tầng: Quảng Điền, Phú Xuân và Phú Vang. Chúng phân bố trên những diện tích nhỏ hẹp dưới dạng các bậc thềm và dọc suối nhánh ở ven rìa đồng bằng. Thành phần chủ yếu là cuội tảng, sỏi xen lớp mỏng bột cát. Trầm tích hệ tầng Quảng Điền thường có bề mặt bị phong hoá mạnh mẽ tạo lớp kết vón dạng khung xương màu đỏ sẫm, cứng chắc. Trầm tích hệ tầng Phú Xuân ở Khe Ly chứa casiterit với hàm lượng 120 – 740 g/m3.
3.2. Trầm tích sông (a).
Trầm tích sông có mặt trong tất cả các phân vị địa tầng Đệ tứ từ cổ đến trẻ. Trầm tích tuổi Q21-2 tạo thềm bậc I, trầm tích Q22-3 và Q23 tạo bãi bồi, còn các trầm tích tuổi Pleistocen không lộ trên mặt, chỉ gặp trong các lỗ khoan. Trầm tích sông có 2 tướng: tướng lòng sông gồm cuội sỏi, sạn cát và tướng bãi bồi chủ yếu là bột cát, bột sét.
3.3. Trầm tích sông - đầm lầy (a
Trầm tích này gặp trong hệ tầng Quảng Điền và trầm tích hiện đại. Đây là di tích các lòng sông cổ bị đầm lầy hoá. Thành phần gồm bột sét pha cát màu xám, xám đen, lẫn mùn thực vật màu đen.
3.4. Trầm tích sông - biển (am)
Trầm tích sông - biển gặp trong các hệ tầng Tân Mỹ, Quảng Điền, Phú Xuân, phú Bài và Phú Vang. ở vùng lộ chúng tạo nên thềm bậc II, bậc I và đồng bằng thấp bằng phẳng. Thành phần chủ yếu là bột sét, bột cát màu xám, xám xanh nhạt, chứa phong phú BTPH, VCS và tảo đặc trưng cho môi trường cửa sông ven biển.
Bảng 2. Tổng hợp thành phần vật chất, hệ số trầm tích của các thành tạo
Đệ tứ ở đồng bằng Thừa Thiên Huế
Địa tầng Nguồn gốc Thành phần độ hạt (%) Hệ số độ hạt Hệ số địa hoá
Cuội sỏi sạn Cát Bột sét Md So Ro Sf Kt pH Eh (mv)
Q23 m
mv
mab
a 0,1 95,54 4,35 0,282 1,3 0,694 0,787
97,47 2,53 0,31 1,25 0,68 0,78
0,98 75,14 23,19 0,7 0,17 1,53 0,69 0,78
3,65 73,32 23,02 0,25 1,91 0,7 0,74 0,06 5 203
Q22-3 m 1,5 93,77 4,75 0,3 1,45 0,66 0,79
mab 26 45 29 0,09 1,42 0,68 0,7-1,5
ma 2,4 88,43 9,17 0,298 1,59 0,6 0,79
amb - Than bùn, cát lẫn than
- Sét xi măng 4,5 -56
am 24,4 49,23 26,8 0,067 2,24 0,68 0,79 0,63 6,5 65,5
Q21-2 mv 3,3 94,3 2,4 0,41 1,36 0,7 0,8
m 2,98 87,8 9,22 0,29 1,51 0,69 0,79
mab 8 55 37 0,03 3,2 0,68 0,8 0,9-1,6 6,9-7,5
amb Sét bột cát, mùn thực vật
am 2,45 30,48 45,46 21,61 0,073 2,18 0,684 0,792 0,9-1,5 6,9-7,4 38-85
a 23,61 41,26 26,09 7,04 0,59 2,85 0,68 0,79
Q13 m 2,13 64,32 27,3 6,24 0,164 1,67 0,69 0,78 7-7,2 50-8,5
amb 1 55 44 0,013 1,65 4,6 <0
am 5,72 31,07 42,32 20,88 0,086 2,78 0,702 0,773 0,55-2,4 6,7-7,5 85-112
a 18,95 48,24 26,28 6,53 0,5 3,12 0,68 0,79
ap 43 41 14,9 1,1 1,13
Q11-2 amb 43,07 56,22 0,7 0,103 1,37 0,74 0,82 1- 1,2 7,2 -5-15
am 8,58 39,1 30,48 21,83 0,18 2,46 0,7 0,8 1-1,24 6,5-7,3 85-220
ab 2,95 61,95 33,6 1,5 0,2 2,16 0,69 0,8
a 45,93 31,75 21,58 0,73 2,15 3,08 0,69 0,79
Q11 amb 10,5 66 23,5 0,05
am 4,86 34,3 40,92 20,06 0,12 2,89 0,69 0,79 1,5-1,8 6,78-7,63 53-232
a 20,85 48,17 26,3 4,68 0,475 2,77 0,7 0,79
Md : kích thước hạt trung bình #9; #9; Kt : cation trao đổi
So : hệ số chọn lọc pH : độ pH
Ro : hệ số mài tròn Eh : thế oxy hoá - khử
Sf : độ cầu
Bảng 3. Các phức hệ cổ sinh trong trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng
Quảng Trị - Thừa Thiên Huế
Địa
tầng Nguồn
gốc Bào tử phấn hoa Vi cổ sinh Tảo
Q23
và
Q22-3 mab Pteris sp ., Cycas sp., Graminae... Ammonia sp., Cytherura sp.,
Quinqueloculina sp... Coscinodiscus sp., Pinnularia sp., Navicula sp....
m Triloculina sp., Bolivina sp.,
Elphidium advenum,
Spiroloculina sp.
Q22-3 ma Polypodium sp., Osmunda sp., Taxodium sp., Quercus sp.... Ammonia sp., Discorbis sp., Elphidium sp., Quinqueloculina sp...
amb Polypodium sp., Pteris sp., Araucaria sp., Cycas sp., Compositae, Pinus sp.
am Polypodium sp., Taxus sp.. Candona sp., Ilyocypris sp... Actinocyclus sp.,
Cyclotella sp. ,
Coscinodiscus sp.,
Q21-2
m Elphidium sp., Nonion sp. Ammonia sp., Quinqueloculina sp....
mab Acanthus sp., Hibiscus sp.,
Quercus sp.... Ammonia sp.,
Elphidium sp.... Coscinodiscus sp.,
Thalassiosira sp....
am Vittaria sp., Nyssa sp.,
Acrostichum sp., Osmunda sp., Ammonia sp., Nonion sp.,
Elphidium sp.... Navicula sp.,
Thalassiosira sp....
Q13 m Elphidium sp., Nonion sp.,
Pararotalia sp.,
Ammonia sp., Miliolina sp ...
am Polypodium sp., Cyathea sp., Sphagnum sp., Pinus sp.,
Araucaria sp.... Cyclotella sp.,
Navicula sp.,
Pinnularia sp.
Q11-2 am Cyathea sp., Fagus sp.,
Araucaria sp., Acrostichum sp. .. Loxoconcha sp., Xestoleberis sp., Cytherura sp.,
Corbula sp. Coscinodiscus sp.,
Navicula sp., Chara, Thalassiosira sp.
Q1 am Polypodium sp., Cyathea sp., Acrostichum sp., Hibiscus sp.,
Sonneratia sp., Rhizophora sp...
3.5. Trầm tích sông - biển - đầm lầy (am
.
Trầm tích sông - biển - đầm lầy có mặt trong tất cả các phân vị địa tầng từ Q1 đến Q22-3. Thành phần chủ yếu là cát bột, sét bột lẫn nhiều di tích thực vật, lớp than bùn mỏng, trong đó, đáng chú ý là trầm tích thuộc hệ tầng Phú Vang. Ở đây chúng có 2 kiểu mặt cắt:
+ Kiểu mặt cắt chứa than bùn đạt giá trị công nghiệp
+ Kiểu mặt cắt chứa sét xi măng ở bờ phải sông Đại Giang
3.6. Trầm tích biển - sông (ma).
Trầm tích này gặp trong hệ tầng Phú Vang; chúng phân bố ở hai bên Phá Tam Giang trên địa hình bằng phẳng cao 1-2 m. Thành phần là cát hạt nhỏ - hạt vừa lẫn bột, ít sạn thạch anh màu xám, chuyển lên trên là cát bột lẫn ít mùn thực vật màu đen.
3.7. Trầm tích biển - sông - đầm lầy (ma
.
Trầm tích này có trong các phân vị địa tầng thuộc Holocen (Phú Bài, Phú Vang và hiện đại). Chúng là các trầm tích đầm phá, vụng cổ bị vùi lấp và hiện tại. Thành phần gồm bột sét, bột cát pha sét màu xám đen lẫn nhiều di tích động vật và thực vật. Trầm tích chứa phong phú BTPH, VCS, tảo thuộc môi trường cửa sông ven biển có yếu tố đầm lầy.
3.8. Trầm tích biển - gió (mv).
Trầm tích biển - gió gặp trong hệ tầng Phú Bài và trầm tích hiện đại. Chúng tạo thành những cồn cát, dải cát cao 8-33 m, bề mặt không bằng phẳng có nhiều gờ, đụn. Thành phần chủ yếu gồm cát thạch anh. Trầm tích hệ tầng Phú Bài có hàm lượng thạch anh ~ 100%, màu trắng, được sử dụng làm cát thuỷ tinh, còn trầm tích hiện đại chứa sa khoáng ilmenit.
3.9. Trầm tích biển (m)
Trầm tích biển gặp trong các hệ tầng Phú Xuân, Phú Bài, Phú Vang và trầm tích hiện đại. Chúng có diện phân bố rộng tạo nên các thềm bậc II, I và bãi triều hiện đại. Thành phần chủ yếu là cát, cát lẫn ít bột. Trầm tích thuộc hệ tầng Phú Xuân có màu vàng, vàng sẫm, trầm tích hệ tầng Phú Bài có màu xám, xám trắng, các trầm tích hệ tầng Phú Vang, trầm tích hiện đại có màu xám vàng chứa sa khoáng ilmenit, zircon, monazit.
TIẾN HOÁ CỦA TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ TRONG MỐI LIÊN QUAN VỚI SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN VÀ CHUYỂN ĐỘNG TÂN KIẾN TẠO.
Lịch sử tiến hóa của một bồn trầm tích Đệ tứ được xem xét dựa trên 2 yếu tố tác động chủ yếu, đó là sự thay đổi mực nước biển liên quan với các kỳ băng hà, gian băng và chuyển động tân kiến tạo địa phương.
1. Sự thay đổi mực nước biển trong kỷ Đệ tứ
Tuy không nằm trong khu vực có băng hà, nhưng sự hình thành và phát triển của các đồng bằng trên lãnh thổ Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của các kỳ băng hà và gian băng. Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong kỷ Đệ tứ có các kỳ băng hà (tạo ra biển lùi) sau:
- Băng hà Gunz trong Pleistocen sớm (Q11)
- Băng hà Mindel trong Pleistocen giữa (Q12 )
- Băng hà Riss vào đầu Pleistocen muộn (Q13 )
- Băng hà Wurm vào cuối Pleistocen muộn (Q13 )
Giữa các kỳ băng hà là các kỳ gian băng (tạo ra biển tiến)
2. Phân vùng tân kiến tạo.
Trong tân kiến tạo (TKT), diện tích nghiên cứu thuộc vùng chuyển tiếp giữa vùng nâng mạnh là dãy Trường Sơn ở phía tây và vùng sụt lún đền bù là rift Sông Hồng ở phía đông.
Trên cơ sở tài liệu địa chất, địa mạo, địa vật lý có thể phân vùng TKT khu vực thành vùng nâng tạo núi lặp lại TKT và vùng sụt lún TKT. Hai vùng này phân cách với nhau bởi đứt gãy rìa đông QL.1A.
2.1. Vùng nâng tạo núi lặp lại tân kiến tạo
Vùng này chủ yếu là địa hình đồi và núi thấp, lộ đá gốc tuổi Paleozoi, có một số trũng sụt lún cục bộ trong Đệ tứ. Trầm tích Đệ tứ ở đây có một số đặc điểm sau:
- Diện phân bố hẹp, tạo thềm bậc II,III.
- Trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp trên đá gốc tuổi Paleozoi.
- Mặt cắt trầm tích không đầy đủ, chỉ có các trầm tích có tuổi từ Q12-3 đến Q2.
- Trầm tích hạt thô chiếm chủ yếu, thành phần đa khoáng.
- Bề dày trầm tích mỏng, thay đổi từ 5 - 20m.
2.2. Vùng sụt lún tân kiến tạo
Vùng sụt lún tân kiến tạo chia làm 2 đới: đới nâng trong Neogen, sụt lún yếu trong Đệ tứ và đới sụt lún trong Neogen - Đệ tứ. Hai đới này phân cách nhau bởi đứt gãy phương TB-ĐN kéo dài qua rìa đông Đông Hà, thành cổ Quảng Trị, thị trấn Hương Trà và phía bắc thành nội Huế. Đứt gãy này được phát hiện qua tài liệu địa vật lý và khoan sâu.
2.2.1. Đới nâng trong Neogen, sụt lún yếu trong Đệ tứ.
Đới này nằm ở phía đông vùng nâng tạo núi lặp lại TKT. Trầm tích Đệ tứ ở đây có đặc điểm sau:
- Trầm tích tạo nên thềm bậc I với diện phân bố khá rộng
- Trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp trên móng đá gốc Paleozoi và granit phức hệ Hải Vân
- Mặt cắt trầm tích không đầy đủ, vắng mặt hệ tầng Tân Mỹ.
- Về mặt nguồn gốc, chủ yếu là các kiểu nguồn gốc thành tạo trong môi trường hỗn hợp
- Bề dày trầm tích thay đổi từ 20 - 60m.
2.2.2. Đới sụt lún trong Neogen - Đệ tứ.
Đới này nằm ở phía đông của đồng bằng QTTTH, bao gồm diện tích các đồng bằng trũng thấp, phá Tam Giang, đę cát ven biển và bãi triều hiện đại. Trầm tích Đệ tứ ở đây có những nét đáng chú ý như sau:
- Trầm tích có diện phân bố rộng, tạo nên sự đa dạng về đặc điểm địa hình, địa mạo và thành phần trầm tích
- Mặt cắt trầm tích có đầy đủ các phân vị địa tầng tuổi từ Q1 đến Q23.
- Nguồn gốc trầm tích chủ yếu là hỗn hợp và biển
- Bề dày trầm tích khá lớn, thay đổi trong khoảng 60 – 163 m.
- Các trầm tích Holocen có sự phân dị theo không gian. Dựa theo đặc điểm phân bố, nguồn gốc và địa tầng của trầm tích Holocen, có thể phân chia ra 5 kiểu mặt cắt khác nhau [11], mỗi kiểu phản ánh xu thế của chuyển động nâng, hạ trong kiến tạo hiện đại.
3. Tiến hoá các thành tạo trầm tích Đệ tứ
Dựa vào các kết quả nghiên cứu đã trình bày ở trên, lịch sử tiến hoá các trầm tích Đệ tứ ở vùng đồng bằng QTTTH có thể chia thành 5 giai đoạn như sau:
3.1. Giai đoạn Pleistocen sớm ( QI )
Giai đoạn này tương ứng với băng hà Gunz và gian băng Gunz – Mindel, có các đặc điểm nổi bật như sau :
- Vùng tích tụ hẹp và hoàn toàn nằm trong đới sụt lún trong Neogen - Đệ tứ.
- Vào đầu giai đoạn này khi đường bờ biển còn nằm ở xa trên thềm lục địa (do biển lùi vào cuối Pliocen), các trầm tích trong vùng nghiên cứu chủ yếu được thành tạo trong điều kiện lục địa với các tích tụ hạt thô, thành phần đa khoáng thuộc phần thấp của hệ tầng Tân Mỹ nằm lót đáy trầm tích Đệ Tứ.
- Cuối giai đoạn, đường bờ biển di chuyển về phía lục địa (biển tiến). Tuy nhiên, ở vùng nghiên cứu chưa có mặt trầm tích biển, chỉ có các thành tạo hỗn hợp nguồn gốc sông - biển với thành phần hạt mịn chiếm chủ yếu. Đôi nơi trầm tích sông - biển bị đầm lầy hoá có chứa nhiều di tích thực vật.
Sau kỳ biển tiến là kỳ biển thoái. Các trầm tích hạt mịn ở phần trên của hệ tầng Tân Mỹ bị phong hoá bóc mòn trong thời gian này.
3.2. Giai đoạn Pleistocen giữa - Pleistocen muộn, phần sớm (Q1 2-3 )
Đây là giai đoạn tương ứng với băng hà Mindel và gian băng Mindel – Riss, có các nét đặc trưng sau:
- Vùng tích tụ được mở rộng hơn so với giai đoạn trước. Phạm vi tích tụ trầm tích bao gồm cả vùng nâng TKT và vùng sụt lún TKT.
- Trầm tích có sự biến đổi theo thời gian và theo không gian:
+ Theo thời gian: vào đầu giai đoạn, khi đường bờ biển còn ở xa, các trầm tích trong khu vực nghiên cứu được thành tạo trong điều kiện lục địa với các tích tụ sông - lũ và sông với trầm tích hạt thô thành phần đa khoáng chiếm chủ yếu. Cuối giai đoạn, khi đường bờ biển di chuyển vào gần lục địa, trầm tích được thành tạo trong môi trường hỗn hợp, thành phần hạt mịn là chủ yếu. Mặt cắt trầm tích từ dưới lên trên, có độ hạt giảm dần.
+ Theo không gian: trầm tích chuyển tướng theo xu hướng ap® a® am theo phương từ đồng bằng ra biển.
- Xuất hiện một số trũng sụt lún cục bộ ở vùng nâng TKT như trũng Hương Hồ (Huế), trũng sông Cam Lộ (Quảng Trị) với các trầm tích hạt thô.
Do vận động nâng trong giai đoạn sau mà các tích tụ nguồn gốc sông - lũ ở ven rìa đồng bằng được nâng cao diễn ra quá trình phong hoá tạo kết vón cứng chắc và có hàm lượng Fe203 tăng cao.
3.3. Giai đoạn Pleistocen muộn, phần muộn (Q13 )
Giai đoạn này tương ứng với băng hà Wurm và có những đặc điểm sau:
- Thời kỳ đầu chủ yếu là các trầm tích hình thành trong điều kiện lục địa. Trầm tích sông - lũ, sông hạt thô chiếm chủ yếu, thành phần đa khoáng.
- Sau đó biển tiến cực đại đã vào tới rìa đồng bằng. Vật liệu trầm tích biển chủ yếu là cát, cát bột.
- Sau kỳ biển tiến, đường bờ biển lùi tới độ sâu 100-120m nước [6]. Các trầm tích thành tạo vào giai đoạn biển tiến lộ trên mặt bị phong hoá tạo màu sắc loang lổ. Vùng ven rìa đồng bằng tiếp tục được nâng cao, các trầm tích biển, sông - biển của hệ tầng Phú Xuân ở đây tạo nên thềm bậc II.
3.4. Giai đoạn Holocen sớm - giữa (Q 21 - 2 )
Đây là giai đoạn tương ứng với kỳ biển tiến Flandri. Từ khoảng 18.000 năm cách ngày nay, mực nước biển bắt đầu dâng lên. Trong khi mực nước biển tiếp tục dâng cao thì diện tích nghiên cứu vẫn là lục địa, trong các lỗ khoan sâu ở vùng ven biển có một lớp trầm tích hạt thô nguồn gốc sông nằm lót đáy trầm tích Holocen. Cách ngày nay khoảng 10.000 năm, mực nước biển ở Đông Nam á là -50 m (hay -47m) [8, 9]. Vào khoảng 8000 - 7000 năm cách nay, mực nước biển ở vùng biển ven bờ QTTTH đạt độ sâu 25 – 35 m so với mực nước biển hiện nay. Có lẽ vào thời gian này, mực nước biển tạm ngưng nghỉ hoặc dâng chậm lại đã hình thành những đę cát ở độ sâu 25-30 m nước [4]. Phía trong các đę cát này là những đầm phá, lạch triều cổ, hiện tại còn lộ ở đáy biển .
Đến khoảng 6000 - 4500 năm cách nay, mực nước biển đạt cực đại. Lúc đó mực nước biển đã vào tới ven rìa đồng bằng, hình thành các trầm tích biển ở đây. Mức độ sụt lún trong chuyển động kiến tạo hiện đại khác nhau đã tạo nên các môi trường trầm tích khác nhau. Dọc theo ven rìa đồng bằng từ phía nam Cửa Tùng đến huyện Phong Điền và huyện Hương Thuỷ là môi trường biển ven bờ có tác động của sóng với các tích tụ bãi cát, cồn cát, sau này nổi cao tạo địa hình cát. Còn ở vùng thành phố Huế và một phần thuộc 2 huyện Hương Trà, Phú Vang là vụng biển có cửa sông đổ vào, môi trường khá yên tĩnh với các tích tụ hạt mịn giàu di tích động vật và thực vật [11]. Các trầm tích này phát triển liên tục suốt từ Holocen sớm đến Holocen muộn và được Nguyễn Ngọc xếp vào điệp Huế [5].
3.5. Giai đoạn Holocen giữa - muộn và Holocen muộn (Q 2 2- 3 và Q23 ).
Đây là giai đoạn biển lùi sau biển tiến Flandri. Trong giai đoạn này có những nét đặc trưng sau:
- Đę cát kéo dài từ nam Cửa Việt đến cửa Tư Hiền được hoàn thiện, phía trong đę cát này là một đầm phá cổ có diện tích rộng hơn nhiều so với phá Tam Giang.
- Hình thành lớp than bùn sau biển tiến nguồn gốc sông - biển - đầm lầy(am
. Kết quả phân tích 2 mẫu than bùn bằng phương pháp C14 cho tuổi từ 1340 ± 60 đến 1370 ± 60 năm và từ 2160 ± 60 đến 2200 ± 60 năm cách nay.
- Hình thành tích tụ sa khoáng trong các trầm tích nguồn gốc biển, biển - gió.
- Có sự phân dị mạnh về địa hình, địa mạo và sự đa dạng về nguồn gốc trầm tích (9 kiểu). Trên bình đồ hiện đại có những trũng sụt lún kéo dài theo bờ biển nằm xen giữa các gờ nâng, trong đó đáng chú ý là trũng Hải Lăng - Phá Tam Giang - Đầm Cầu Hai, trũng Gio Linh - Triệu Phong, trũng Hương Thuỷ. Trong trũng lộ trầm tích trẻ hơn ở gờ nâng [11].
KẾT LUẬN
Qua những vấn đề đã trình bày ở trên có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Ranh giới Neogen / Đệ tứ vùng đồng bằng QTTTH được xác định là đáy của lớp trầm tích hạt thô thuộc hệ tầng Tân Mỹ (Q11tm). Kết quả bước đầu cho thấy đây là ranh giới không chỉnh hợp.
2. Theo nguồn gốc, trầm tích Đệ tứ có 9 kiểu thuộc 6 phân vị địa tầng có tuổi khác nhau. Các kiểu nguồn gốc này có thành phần vật chất, cổ sinh và địa hoá môi trường đặc trưng, thể hiện điều kiện động lực môi trường khác nhau.
3. Tiến hoá trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng QTTTH gắn liền với sự thay đổi mực nước biển (do ảnh hưởng của băng hà và gian băng) và các chuyển động kiến tạo nâng hạ địa phương. Sự thay đổi mực nước biển có tính chất khu vực tạo ra bức tranh chung về lịch sử phát triển, còn yếu tố kiến tạo có tính chất đặc thù địa phương và có tác dụng làm phức tạp thêm quá trình phát triển của đồng bằng. Kết quả là trên những đới cấu trúc TKT, trầm tích Đệ tứ có thành phần vật chất, môi trường thành tạo và bề dày khác nhau.
Lịch sử tiến hoá trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng QTTTH có thể chia làm 5 giai đoạn từ Q1 đến Q23. Các giai đoạn từ Q1 đến Q21-2 có mặt cắt từ dưới lên trên thể hiện kiểu mặt cắt biển tiến, còn giai đoạn Q22-3 - Q23, mặt cắt thể hiện quá trình biển lùi.
Do sự phân dị của chuyển động kiến tạo trong Holocen mà các trầm tích tuổi Pleistocen ở ven rìa đồng bằng được nâng cao tạo thềm bậc II, bậc III, còn ở trung tâm đồng bằng và ven biển chúng bị phủ dưới các trầm tích trẻ hơn.
4. Vai trò của biển tăng cao trong Đệ tứ muộn (Q13 đến Q2). Quan hệ cộng sinh đę cát - đầm phá ít nhất xuất hiện từ cuối Q13 đầu Q21. Các đầm phá cổ (hiện đã bị chôn vùi) có phạm vi phân bố rộng lớn hơn nhiều so với Phá Tam Giang.
Bài báo được hoàn thành với sự giúp đỡ và góp ý của GS-TS Trần Nghi, TS Đŕo Văn Thịnh, KS Phạm Huy Thông, KS Đỗ Văn Long. Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành.
Comments 4 Sort comments:
Danno Huynh (Wednesday, 1 October 2008 at 21:41)
- Bubulovely_hn:
- danno_huynh:
Danno hoc nganh DCCT nhung lai lam khai thac mo cho nha may ceramic va nha may gom su gia dung
làm như anh Danno có vẻ hay hơn, làm ĐCCT nhàm quá
Uh, ah cung khai thác một số nguyên liệu để nhập lại cho nhà máy, hay hay đi đây đó các vùng núi trong tỉnh tt huế và Quảng nam
trang web của anh http://trdano.googlepages.com
Hai Yen Nguyen (Wednesday, 1 October 2008 at 21:32)
- danno_huynh:
Danno hoc nganh DCCT nhung lai lam khai thac mo cho nha may ceramic va nha may gom su gia dung
làm như anh Danno có vẻ hay hơn, làm ĐCCT nhàm quá
Danno Huynh (Wednesday, 1 October 2008 at 21:16)
Danno hoc nganh DCCT nhung lai lam khai thac mo cho nha may ceramic va nha may gom su gia dung
Hai Yen Nguyen (Wednesday, 1 October 2008 at 20:32)
Blog dài quá
Bubu copy về nhà đọc dần dần
Bubu học ngành Khoan thăm dò- khoa Dầu khí, jờ đang làm về ĐCCT ạ
Post a comment: