danno_huynh's profile page

danno_huynh

male - 36 years, Hue, Vietnam


RSS feed

Blog 14


  • Cơn mưa lụt miền trung

    Đã đến trung tuần tháng 10 mà Thừa Thiên Huế mới có những trận mưa đêm từng đợt. Người dân huế ở vùng thấp có lẽ thầm vui trong lòng vì cùng với thời gian này các năm trước họ phải dọn nước lụt 3- 5 lần rồi. Những ai từng ở Trường Sơn trong trận lụt 1999 mới thấy mưa đáng sợ dường nào. Người ta nói mưa như trút nước là mưa giống như ai đổ nước trên đầu, mắt không mở ra được, mưa trắng rừng, tầm nhìn chỉ vài mét đó là một đêm trong trận lủ lịch sử trận mưa suốt đêm, dù đã lớn lên trên quê hương mưa bão nhưng tôi vẫn có cảm giác sờ sợ vì mưa quá to và kéo dài, mưa rầm rầm trên mái tôn - ngồi trong láng trên một ngòn đồi mà vẫn nghe nước đổ ầm ầm trên con suối đường lên mỏ. Mưa làm trôi một quả núi ở Hồng hạ QL49 cả triệu mét khối vược qua sông lấp luôn một quả đồi đối diện bên kia dòng sông đang chảy như thác. đường trường sơn chưa là và QL 49 đất đá sạt lỡ vô vàng đâu cũng thấy đất và bùn. Còn sáng hôm sau nước đổ về đồng bằng thi ai cũng biết đó là trận lụt lịch sử 1999 tại Thừa Thiên Huế. Đã gần mười năm rồi nhưng cảm giác đó vẫn cứ hiện về trong những đêm nằm nghe mưa vì ai biết được chu kỳ 100 năm hay 10 năm khi rừng ngày nào toàn là gỗ lớn trên các sườn núi. còn phần trung du cạnh các khe suối lau và tranh mọc xanh các ngòn đồi, còn đến mùa Lau trổ cờ rất đẹp. Nay được thay thành các rừng cây keo và thuốc diệt cỏ.

  • Sự kỳ lạ của đá thạch anh

    Các nhà trường sinh học cho rằng thạch anh là một thứ đá trực cảm và cực nhạy, có khả năng làm cho con người giao tiếp với vũ trụ, với thế giới siêu nhiên. Những viên đá thạch anh tuyệt đẹp cho phép nhìn thấy cái vô hình, biết được cái chưa biết, thực hiện cuộc du hành lý thú vào quá khứ và tương lai...

    Viên đá màu nhiệm

    Từ thời xa xưa, thạch anh (quarta) đã được coi là một thứ đá màu nhiệm. Thạch anh được gọi là băng tinh, không tan thành nước, trông trong suốt như pha lê, có một đặc tính đáng chú ý: Nó bao giờ cũng mát lạnh khi ta cầm lên tay. Bởi vậy từ xưa, để kiểm tra xem là đồ thật hay đồ giả, thợ kim hoàn thường áp nó vào má xem có lạnh không.

    Ngoài ra, các nhà trường sinh học còn cho rằng thạch anh là một thứ đá trực cảm và cực nhạy, có khả năng làm cho con người giao tiếp với vũ trụ, với thế giới siêu nhiên. Những viên đá thạch anh tuyệt đẹp cho phép nhìn thấy cái vô hình, biết được cái chưa biết, thực hiện cuộc du hành lý thú vào quá khứ và tương lai...

    Hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX việc dùng viên đá thạch anh để bói đã trở thành "mốt" thực thụ ở nước Anh. Đối với một số người nhiệt tình, việc bói này đã mang lại kết quả mỹ mãn và do đó đã trở thành một nghề ăn nên làm ra và rất nổi tiếng. Một trong những thầy bói lừng danh như vậy ở đầu thế kỷ XX là một người Anh tên là Fon Burg. Một loạt vụ việc rắc rối mà Fon Burg khám phá ra nhờ viên đá thạch anh đã làm cho tên ông ta nổi như cồn.

    Nhà tiên tri nổi tiếng







    Quả cầu đá thạch anh
    (Ảnh minh họa: Millenniumminerals)


    Vào những năm 1940 ở Mỹ xuất hiện một nhà nữ tiên tri nổi tiếng tên là Jane Dickson (nguyên họ là Pinkert). Ngay từ lúc mới 5 tuổi, Jane đã biểu diễn cho người thân xem khả năng tiên đoán siêu phàm của mình: em đã tiên đoán những sự kiện tương lai, các món quà mà khách đem đến, cái chết của những người thân thích...

    Năm lên 8 tuổi, cô bé đã nhận được một món quà có tính chất định đoạt toàn bộ số phận sau này của em. Sự kiện đáng nhớ này xảy ra trong ngôi nhà của một bà thầy bói người Digan nổi tiếng mà mẹ cô dẫn cô đến để "tư vấn". Công việc đầu tiên của bà Digan là xem bàn tay của cô bé: "Cô con gái của bà sẽ trở thành một nhà tiên tri vĩ đại". Sau đó bà ta đưa cho cô bé viên đá thạch anh: "Cháu nhìn thấy gì trong viên đá này?". Jane chăm chú nhìn vào giữa viên đá và bắt đầu miêu tả một địa điểm chưa hề quen biết: một dải bờ hoang dã lởm chởm đá, sóng biển nhấp nhô... "Đấy là quê hương của ta. Ta tặng cháu viên đá này" bà thầy bói Digan nói. Viên đá thạch anh đã lọt vào đúng địa chỉ cần thiết.

    Những phỏng đoán chính xác

    Chí ít, Jane đã hai lần tư vấn cho Tổng thống Mỹ Roosevelt. Trong cuộc gặp lần thứ nhất vào tháng 11/1944, Roosevelt (bị liệt hai chân phải ngồi trong xe đẩy) hỏi: "Xin cô hãy nói thẳng cho tôi biết liệu tôi còn sống được bao lâu nữa để kết thúc công việc đã bắt đầu?". Jane không thể né tránh câu trả lời: "Nửa năm nữa, thưa ngài tổng thống, mà có thể thậm chí còn ít hơn". Sau cuộc gặp đó được 5 tháng, ngày 12/4/1945, đúng như điều Jane tiên đoán, Roosevelt đã từ trần.

    Cuối năm 1956, Jane đã tiên đoán rằng sau chừng 7 năm nữa người kế nhiệm đương kim thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru (1889-1964) sẽ là một người mà tên tuổi họ được bắt đầu bằng chữ "S". Lần này viên đá thạch anh cũng bộc lộ khả năng màu nhiệm của nó: tháng 6/1964 sau khi Nehru qua đời, Lal Bahadur Shatri đã trở thành Thủ tướng Ấn Độ.

    Dickson cũng có thể thông báo về số phận của một số người. Chẳng hạn bà đã tiên đoán một cách chính xác tương lai của người nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng Ronald Reagan mà sau này trở thành vị Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981-1989). Năm 1964, Dickson đã dự báo rằng người Nga sẽ là người đầu tiên đưa con tàu vũ trụ lên mặt trăng, rằng trước năm 2000 bức tường Berlin sẽ bị phá đổ, còn ở La Mã sẽ có vụ ám sát Đức giáo hoàng.

    Đặc biệt, Dickson nhìn thấy rất rõ những tấm thảm kịch trong tương lai. Chẳng hạn bà đã báo trước trận động đất năm 1964 ở Aliasca, đã tiên đoán cái chết của J.F.Dales, cái chết của nữ minh tinh Marilyn Monroe, của thủ lĩnh da đen Martin Luther King, của thượng nghị sĩ Robert Kenedy. Bà cũng khuyên can nữ nghệ sĩ Lombard không nên đi máy bay, nhưng Lombard đã coi thường lời cảnh báo tận tình và đã bỏ mạng trong một tai nạn phi cơ.

    Danh tiếng trên quy mô thế giới đã đến với Dickson sau vụ ám sát John Kenedy (1917-1963). Sự kiện bi thảm này đã được bà tiên đoán ngay từ năm 1956, khi mà không ai ngờ rằng 5 năm sau vị chính khách ít người biết đến đó sẽ trở thành Tổng thống Mỹ. Song Jane Dickson không chỉ miêu tả cho một nhà báo Mỹ thấy ngoại hình của vị Tổng thống Hoa Kỳ tương lai (mái tóc dày màu hạt dẻ và đôi mắt xanh) mà còn nói rằng kẻ giết ông ta là một người có cái tên bắt đầu bằng chữ "O" hoặc chữ "Q".

    Tháng 12/1966, Jane đã làm cho thế giới sửng sốt bằng một lời tiên tri mới: Bà đã báo cho vợ của người phụ trách bộ phận điều khiển các chuyến bay vũ trụ có người lái biết rằng cái chết đang đe dọa các nhà du hành vũ trụ chuẩn bị bay lên mặt trăng. Bà đã cho biết những gì mình nhìn thấy như sau: "Trên sàn quả tên lửa có một cái gì đó rất lạ - nó mỏng trông giống như lá kim loại, nếu có một dụng cụ nào đó rơi vào nó hoặc có ai đó lấy gót giày giẫm lên thì ắt sẽ xảy ra tai họa. Ở phía dưới sàn tôi nhìn thấy một cuộn dây điện rối tung. Cái chết đang đe dọa các nhà du hành vũ trụ. Tôi cảm thấy rằng linh hồn của họ đang lìa khỏi xác nóng hổi trong những cuộn khói..."

    Hỡi ôi, và cả lần này lời tiên đoán cũng rất chính xác. Một tháng sau, ngày 27/1/1967 trong khi tập luyện trong con tàu vũ trụ "Apollon - 1", 3 nhà du hành vũ trụ Mỹ đã bị thiêu sống. Đó là Virgil Prisom, Edward Wait và Roger Chaffi. Sự cố chập mạch của dây điện ở bên dưới ghế ngồi của Chaffi trong môi trường chứa ôxy nguyên chất lập tức bùng lên thành một ngọn lửa hung hãn. Lời nói cuối cùng mà các nhân viên điều hành vô tuyến điện nghe được là tiếng kêu hấp hối của Roger Chaffi, một thành viên trẻ nhất của phi hành đoàn: "Chúng tôi đang bị thiêu sống! Hãy đưa chúng tôi ra khỏi đây!". Sau 14 giây, một đám khói bao trùm lên buồng điều khiển và con tàu "Apollon" bị nổ tung vì cháy...

    Tiếp cận chân lý

    Dickson đã nhiều lần nói rằng sự tiên đoán đến với bà bằng những con đường khác nhau. Đôi khi là do tiếp xúc với một đồ vật mà một người nào đó chạm vào. Đôi khi đó là do nguồn tin "từ trên cao". Nhưng đặc biệt Jane rất coi việc nhìn vào viên đá thạch anh của mình. Bà cho rằng bằng cách khác thì khó mà có được một "bức tranh" chi tiết. Jane Dickson mất ngày 25/1/1997 và đã mang theo sang thế giới bên kia sự bí ẩn đối với các nhà khoa học.

    Sự quan tâm đến những hình ảnh hiện ra trên viên đá thạch anh vào những năm gần đây lại dấy lên mạnh mẽ. Điều đó trước hết có liên quan với sự triển khai các công trình nghiên cứu về những khả năng tâm lý của con người. Một loạt thí nghiệm do các nhà khoa học và các bác sĩ tâm lý nổi tiếng của Mỹ tiến hành, cho thấy rằng những hình ảnh hiện lên trên viên đá thạch anh là có thật chứ không là phải là bịa đặt. Những sự việc và những hiện tượng mà các nhà khoa học thâu nhận được trong những cuộc thí nghiệm với những con người cụ thể càng củng cố thêm quan điểm cho rằng thạch anh hay băng tinh có một số tính năng thông tin đặc biệt mà khoa học rồi đây sẽ phải khám phá

  • TIẾN HOÁ CỦA TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VÙNG ĐỒNG BẰ

    TIẾN HOÁ CỦA TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VÙNG ĐỒNG BẰNG QUẢNG TRỊ - THỪA THIÊN HUẾ
    VŨ QUANG LÂN
    Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Bắc, ái Mộ, Gia Lâm, Hà Nội
    Tóm tắt: Qua phân tích và tổng hợp các tài liệu đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1: 50.000, 1: 25.000 và tài liệu liên quan với các trầm tích Đệ tứ ở vùng đồng bằng Quảng Trị - Thừa Thiên Huế, tác giả có một số nhận xét sau:
    1) Ranh giới giữa Neogen và Đệ tứ vùng đồng bằng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế bước đầu được phân định trên cơ sở tài liệu về thạch học, cổ sinh, môi trường trầm tích và địa vật lý.
    2) Các trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế có 9 kiểu nguồn gốc: sông - lũ (ap), sông (a), sông - đầm lầy (a, sông - biển (am), sông - biển - đầm lầy (am, biển - sông (ma), biển - sông - đầm lầy (ma, biển - gió (mv) và biển (m) thuộc 6 phân vị địa tầng có tuổi từ Pleistocen sớm (Q11) đến Holocen muộn (Q23 ).
    3) Tiến hoá của thành tạo trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế có liên quan chặt chẽ với sự thay đổi mực nước biển và các chuyển động kiến tạo nâng hạ địa phương.
    Lịch sử tiến hoá của trầm tích Đệ tứ ở vùng đồng bằng Quảng Trị - Thừa Thiên Huế có thể chia làm 5 giai đoạn: - Giai đoạn Pleistocen sớm (Q11); - Giai đoạn Pleistocen giữa - Pleistocen muộn, phần sớm (Q12-3 ); - Giai đoạn Pleistocen muộn, phần muộn (Q13 ); - Giai đoạn Holocen sớm - giữa (Q21-2 ); - Giai đoạn Holocen giữa - muộn và Holocen muộn (Q22-3 và Q23 )
    MỞ ĐẦU
    Quá trình phát triển vùng đồng bằng Quảng Trị - Thừa Thiên Huế (QTTTH) gắn liền với lịch sử tiến hoá các thành tạo trầm tích Đệ tứ và bị khống chế bởi các tác nhân nội sinh và ngoại sinh. Trong các tác nhân này, đóng vai trò quyết định tới thành phần vật chất, nguồn gốc và bề dày trầm tích là các chuyển động kiến tạo địa phương và sự thay đổi mực nước biển liên quan với các kỳ băng hà, gian băng.
    Trên cơ sở phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan với trầm tích Đệ tứ, bài báo đề cập đến lịch sử tiến hoá các thành tạo trầm tích Đệ tứ trong mối liên quan với sự thay đổi mực nước biển và chuyển động tân kiến tạo ở vùng đồng bằng QTTTH.
    ĐẶC ĐIỂM CÁC TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ
    1. Ranh giới Neogen / Đệ tứ
    ? đồng bằng QTTTH, ranh giới giữa các trầm tích Neogen và Đệ tứ (N/Q) bước đầu được phân chia theo lỗ khoan LK.Hu7 ở độ sâu 163 m, dựa trên các tài liệu sau [10]:
    1. Về đặc điểm thạch học:
    Có sự khác biệt khá rõ ràng giữa trầm tích ở trên và dưới ranh giới này. Trầm tích Neogen gồm cát kết xen bột kết, sét kết màu xám xanh, gắn kết yếu đến trung bình, phân lớp xiên khá rõ. Trầm tích Pleistocen sớm có thành phần là cuội sỏi, sạn lẫn cát bột sét màu xám vàng, bở rời. Thành phần độ hạt và các hệ số độ hạt của chúng cũng có sự khác biệt rõ ràng.
    2. Về đặc điểm cổ sinh và môi trường trầm tích :
    Các trầm tích Neogen chứa phong phú bào tử phấn hoa (BTPH): Rhizophora sp., Lithocarpus sp., Sonneratia sp., Quercus sp., Lygodium sp., Castanopsis sp., Michenia sp.... và vi cổ sinh (VCS): Cypredeis sp., Leptocythera sp., Cytherura sp.... tuổi Pliocen, còn ở phần thấp nhất của trầm tích Đệ tứ không có cổ sinh. Các kết quả phân tích địa hoá môi trường (pH: 7,37; cation trao đổi : 0,87) cũng cho thấy trầm tích Neogen được hình thành trong điều kiện cửa sông - ven biển, còn trầm tích ở phần thấp của Pleistocen sớm được hình thành trong điều kiện lục địa. Điều này phù hợp với quan niệm cho rằng vào đầu Pleistocen sớm, biển ở ngoài thềm lục địa hiện nay, phần lớn thềm lục địa bây giờ lúc đó là lục địa [5].
    1.3. Về đặc điểm địa vật lý.
    Các đường cong carota và các tham số địa vật lý có sự khác biệt khá rõ ràng ở trên và dưới ranh giới trầm tích N/Q (bảng 1)
    Bảng 1. Bảng thống kê giá trị trung bình các tham số vật lý thuộc
    các hệ tầng Tân Mỹ và Vĩnh Điện ở lỗ khoan Hu7.
    Hệ tầng Cường độ xạ (g ) tự nhiên (%R/h) Cường độ xạ (g ) nhân tạo (%R/h) ĐTS hệ điện cực thế (W m) ĐTS hệ gradien (W m) Điện trường tự nhiên (mv)
    Tân Mỹ (aQ11 tm ) 60 590 12 22 55
    Vĩnh Điện ( Nvđ ) 96 630 10,1 8,5 49
    ĐTS: điện trở suất
    2. Phân chia trầm tích Đệ tứ.
    Trên cơ sở các tài liệu địa chất và địa mạo, trầm tích Đệ tứ ở vùng nghiên cứu được phân chia thành 6 phân vị địa tầng có tuổi khác nhau [1]:
    - Hệ tầng Tân Mỹ, tuổi Pleistocen sớm (Q11 tm)
    - Hệ tầng Quảng Điền, tuổi Pleistocen giữa - Pleistocen muộn, phần sớm (Q12-3 qđ)
    - Hệ tầng Phú Xuân, tuổi Pleistocen muộn, phần muộn (Q13 px)
    - Hệ tầng Phú Bài, tuổi Holocen sớm - giữa (Q21-2 p
    - Hệ tầng Phú Vang, tuổi Holocen giữa - muộn (Q22- 3 pv)
    - Trầm tích hiện đại (Q23)
    Bề dày trầm tích Đệ tứ tăng theo hướng từ rìa đồng bằng ra biển, bề dày lớn nhất đạt 163 m ở lỗ khoan Hu7 (cửa Thuận An)
    3. Đặc điểm các kiểu nguồn gốc trầm tích.
    Dựa theo thành phần vật chất, cổ sinh, địa hoá môi trường, các trầm tích Đệ tứ ở vùng nghiên cứu được phân chia thành 9 kiểu nguồn gốc : sông - lũ (ap), sông (a), sông - đầm lầy (a, sông - biển (am), sông - biển - đầm lầy (am, biển - sông (ma), biển - sông - đầm lầy (ma, biển - gió (mv) và biển (m).
    Trong cùng một phân vị địa tầng, các kiểu nguồn gốc trầm tích chuyển tướng ngang với nhau từ rìa đồng bằng ra biển theo xu hướng: a (ap, ab ) am (am  ma (ma  mv m .
    3.1. Trầm tích sông - lũ (ap).
    Trầm tích sông - lũ có ở 3 hệ tầng: Quảng Điền, Phú Xuân và Phú Vang. Chúng phân bố trên những diện tích nhỏ hẹp dưới dạng các bậc thềm và dọc suối nhánh ở ven rìa đồng bằng. Thành phần chủ yếu là cuội tảng, sỏi xen lớp mỏng bột cát. Trầm tích hệ tầng Quảng Điền thường có bề mặt bị phong hoá mạnh mẽ tạo lớp kết vón dạng khung xương màu đỏ sẫm, cứng chắc. Trầm tích hệ tầng Phú Xuân ở Khe Ly chứa casiterit với hàm lượng 120 – 740 g/m3.
    3.2. Trầm tích sông (a).
    Trầm tích sông có mặt trong tất cả các phân vị địa tầng Đệ tứ từ cổ đến trẻ. Trầm tích tuổi Q21-2 tạo thềm bậc I, trầm tích Q22-3 và Q23 tạo bãi bồi, còn các trầm tích tuổi Pleistocen không lộ trên mặt, chỉ gặp trong các lỗ khoan. Trầm tích sông có 2 tướng: tướng lòng sông gồm cuội sỏi, sạn cát và tướng bãi bồi chủ yếu là bột cát, bột sét.
    3.3. Trầm tích sông - đầm lầy (a
    Trầm tích này gặp trong hệ tầng Quảng Điền và trầm tích hiện đại. Đây là di tích các lòng sông cổ bị đầm lầy hoá. Thành phần gồm bột sét pha cát màu xám, xám đen, lẫn mùn thực vật màu đen.
    3.4. Trầm tích sông - biển (am)
    Trầm tích sông - biển gặp trong các hệ tầng Tân Mỹ, Quảng Điền, Phú Xuân, phú Bài và Phú Vang. ở vùng lộ chúng tạo nên thềm bậc II, bậc I và đồng bằng thấp bằng phẳng. Thành phần chủ yếu là bột sét, bột cát màu xám, xám xanh nhạt, chứa phong phú BTPH, VCS và tảo đặc trưng cho môi trường cửa sông ven biển.
    Bảng 2. Tổng hợp thành phần vật chất, hệ số trầm tích của các thành tạo
    Đệ tứ ở đồng bằng Thừa Thiên Huế
    Địa tầng Nguồn gốc Thành phần độ hạt (%) Hệ số độ hạt Hệ số địa hoá
    Cuội sỏi sạn Cát Bột sét Md So Ro Sf Kt pH Eh (mv)

    Q23 m
    mv
    mab
    a 0,1 95,54 4,35 0,282 1,3 0,694 0,787
    97,47 2,53 0,31 1,25 0,68 0,78
    0,98 75,14 23,19 0,7 0,17 1,53 0,69 0,78
    3,65 73,32 23,02 0,25 1,91 0,7 0,74 0,06 5 203


    Q22-3 m 1,5 93,77 4,75 0,3 1,45 0,66 0,79
    mab 26 45 29 0,09 1,42 0,68 0,7-1,5
    ma 2,4 88,43 9,17 0,298 1,59 0,6 0,79
    amb - Than bùn, cát lẫn than
    - Sét xi măng 4,5 -56

    am 24,4 49,23 26,8 0,067 2,24 0,68 0,79 0,63 6,5 65,5


    Q21-2 mv 3,3 94,3 2,4 0,41 1,36 0,7 0,8
    m 2,98 87,8 9,22 0,29 1,51 0,69 0,79
    mab 8 55 37 0,03 3,2 0,68 0,8 0,9-1,6 6,9-7,5
    amb Sét bột cát, mùn thực vật
    am 2,45 30,48 45,46 21,61 0,073 2,18 0,684 0,792 0,9-1,5 6,9-7,4 38-85
    a 23,61 41,26 26,09 7,04 0,59 2,85 0,68 0,79


    Q13 m 2,13 64,32 27,3 6,24 0,164 1,67 0,69 0,78 7-7,2 50-8,5
    amb 1 55 44 0,013 1,65 4,6 <0
    am 5,72 31,07 42,32 20,88 0,086 2,78 0,702 0,773 0,55-2,4 6,7-7,5 85-112
    a 18,95 48,24 26,28 6,53 0,5 3,12 0,68 0,79
    ap 43 41 14,9 1,1 1,13
    Q11-2 amb43,07 56,22 0,7 0,103 1,37 0,74 0,82 1- 1,2 7,2 -5-15
    am 8,58 39,1 30,48 21,83 0,18 2,46 0,7 0,8 1-1,24 6,5-7,3 85-220
    ab 2,95 61,95 33,6 1,5 0,2 2,16 0,69 0,8
    a 45,93 31,75 21,58 0,73 2,15 3,08 0,69 0,79
    Q11 amb 10,5 66 23,5 0,05
    am 4,86 34,3 40,92 20,06 0,12 2,89 0,69 0,79 1,5-1,8 6,78-7,63 53-232
    a 20,85 48,17 26,3 4,68 0,475 2,77 0,7 0,79
    Md : kích thước hạt trung bình #9; #9; Kt : cation trao đổi
    So : hệ số chọn lọc pH : độ pH
    Ro : hệ số mài tròn Eh : thế oxy hoá - khử
    Sf : độ cầu

    Bảng 3. Các phức hệ cổ sinh trong trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng
    Quảng Trị - Thừa Thiên Huế
    Địa
    tầng Nguồn
    gốc Bào tử phấn hoa Vi cổ sinh Tảo
    Q23

    Q22-3 mab Pteris sp ., Cycas sp., Graminae... Ammonia sp., Cytherura sp.,
    Quinqueloculina sp... Coscinodiscus sp., Pinnularia sp., Navicula sp....
    m Triloculina sp., Bolivina sp.,
    Elphidium advenum,
    Spiroloculina sp.


    Q22-3 ma Polypodium sp., Osmunda sp., Taxodium sp., Quercus sp.... Ammonia sp., Discorbis sp., Elphidium sp., Quinqueloculina sp...
    amb Polypodium sp., Pteris sp., Araucaria sp., Cycas sp., Compositae, Pinus sp.
    am Polypodium sp., Taxus sp.. Candona sp., Ilyocypris sp... Actinocyclus sp.,
    Cyclotella sp. ,
    Coscinodiscus sp.,


    Q21-2

    m Elphidium sp., Nonion sp. Ammonia sp., Quinqueloculina sp....
    mab Acanthus sp., Hibiscus sp.,
    Quercus sp.... Ammonia sp.,
    Elphidium sp.... Coscinodiscus sp.,
    Thalassiosira sp....
    am Vittaria sp., Nyssa sp.,
    Acrostichum sp., Osmunda sp., Ammonia sp., Nonion sp.,
    Elphidium sp.... Navicula sp.,
    Thalassiosira sp....


    Q13 m Elphidium sp., Nonion sp.,
    Pararotalia sp.,
    Ammonia sp., Miliolina sp ...
    am Polypodium sp., Cyathea sp., Sphagnum sp., Pinus sp.,
    Araucaria sp.... Cyclotella sp.,
    Navicula sp.,
    Pinnularia sp.
    Q11-2 am Cyathea sp., Fagus sp.,
    Araucaria sp., Acrostichum sp. .. Loxoconcha sp., Xestoleberis sp., Cytherura sp.,
    Corbula sp. Coscinodiscus sp.,
    Navicula sp., Chara, Thalassiosira sp.
    Q1 am Polypodium sp., Cyathea sp., Acrostichum sp., Hibiscus sp.,
    Sonneratia sp., Rhizophora sp...
    3.5. Trầm tích sông - biển - đầm lầy (am.
    Trầm tích sông - biển - đầm lầy có mặt trong tất cả các phân vị địa tầng từ Q1 đến Q22-3. Thành phần chủ yếu là cát bột, sét bột lẫn nhiều di tích thực vật, lớp than bùn mỏng, trong đó, đáng chú ý là trầm tích thuộc hệ tầng Phú Vang. Ở đây chúng có 2 kiểu mặt cắt:
    + Kiểu mặt cắt chứa than bùn đạt giá trị công nghiệp
    + Kiểu mặt cắt chứa sét xi măng ở bờ phải sông Đại Giang
    3.6. Trầm tích biển - sông (ma).
    Trầm tích này gặp trong hệ tầng Phú Vang; chúng phân bố ở hai bên Phá Tam Giang trên địa hình bằng phẳng cao 1-2 m. Thành phần là cát hạt nhỏ - hạt vừa lẫn bột, ít sạn thạch anh màu xám, chuyển lên trên là cát bột lẫn ít mùn thực vật màu đen.
    3.7. Trầm tích biển - sông - đầm lầy (ma.
    Trầm tích này có trong các phân vị địa tầng thuộc Holocen (Phú Bài, Phú Vang và hiện đại). Chúng là các trầm tích đầm phá, vụng cổ bị vùi lấp và hiện tại. Thành phần gồm bột sét, bột cát pha sét màu xám đen lẫn nhiều di tích động vật và thực vật. Trầm tích chứa phong phú BTPH, VCS, tảo thuộc môi trường cửa sông ven biển có yếu tố đầm lầy.
    3.8. Trầm tích biển - gió (mv).
    Trầm tích biển - gió gặp trong hệ tầng Phú Bài và trầm tích hiện đại. Chúng tạo thành những cồn cát, dải cát cao 8-33 m, bề mặt không bằng phẳng có nhiều gờ, đụn. Thành phần chủ yếu gồm cát thạch anh. Trầm tích hệ tầng Phú Bài có hàm lượng thạch anh ~ 100%, màu trắng, được sử dụng làm cát thuỷ tinh, còn trầm tích hiện đại chứa sa khoáng ilmenit.
    3.9. Trầm tích biển (m)
    Trầm tích biển gặp trong các hệ tầng Phú Xuân, Phú Bài, Phú Vang và trầm tích hiện đại. Chúng có diện phân bố rộng tạo nên các thềm bậc II, I và bãi triều hiện đại. Thành phần chủ yếu là cát, cát lẫn ít bột. Trầm tích thuộc hệ tầng Phú Xuân có màu vàng, vàng sẫm, trầm tích hệ tầng Phú Bài có màu xám, xám trắng, các trầm tích hệ tầng Phú Vang, trầm tích hiện đại có màu xám vàng chứa sa khoáng ilmenit, zircon, monazit.
    TIẾN HOÁ CỦA TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ TRONG MỐI LIÊN QUAN VỚI SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN VÀ CHUYỂN ĐỘNG TÂN KIẾN TẠO.
    Lịch sử tiến hóa của một bồn trầm tích Đệ tứ được xem xét dựa trên 2 yếu tố tác động chủ yếu, đó là sự thay đổi mực nước biển liên quan với các kỳ băng hà, gian băng và chuyển động tân kiến tạo địa phương.
    1. Sự thay đổi mực nước biển trong kỷ Đệ tứ
    Tuy không nằm trong khu vực có băng hà, nhưng sự hình thành và phát triển của các đồng bằng trên lãnh thổ Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của các kỳ băng hà và gian băng. Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong kỷ Đệ tứ có các kỳ băng hà (tạo ra biển lùi) sau:
    - Băng hà Gunz trong Pleistocen sớm (Q11)
    - Băng hà Mindel trong Pleistocen giữa (Q12 )
    - Băng hà Riss vào đầu Pleistocen muộn (Q13 )
    - Băng hà Wurm vào cuối Pleistocen muộn (Q13 )
    Giữa các kỳ băng hà là các kỳ gian băng (tạo ra biển tiến)
    2. Phân vùng tân kiến tạo.
    Trong tân kiến tạo (TKT), diện tích nghiên cứu thuộc vùng chuyển tiếp giữa vùng nâng mạnh là dãy Trường Sơn ở phía tây và vùng sụt lún đền bù là rift Sông Hồng ở phía đông.
    Trên cơ sở tài liệu địa chất, địa mạo, địa vật lý có thể phân vùng TKT khu vực thành vùng nâng tạo núi lặp lại TKT và vùng sụt lún TKT. Hai vùng này phân cách với nhau bởi đứt gãy rìa đông QL.1A.
    2.1. Vùng nâng tạo núi lặp lại tân kiến tạo
    Vùng này chủ yếu là địa hình đồi và núi thấp, lộ đá gốc tuổi Paleozoi, có một số trũng sụt lún cục bộ trong Đệ tứ. Trầm tích Đệ tứ ở đây có một số đặc điểm sau:
    - Diện phân bố hẹp, tạo thềm bậc II,III.
    - Trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp trên đá gốc tuổi Paleozoi.
    - Mặt cắt trầm tích không đầy đủ, chỉ có các trầm tích có tuổi từ Q12-3 đến Q2.
    - Trầm tích hạt thô chiếm chủ yếu, thành phần đa khoáng.
    - Bề dày trầm tích mỏng, thay đổi từ 5 - 20m.
    2.2. Vùng sụt lún tân kiến tạo
    Vùng sụt lún tân kiến tạo chia làm 2 đới: đới nâng trong Neogen, sụt lún yếu trong Đệ tứ và đới sụt lún trong Neogen - Đệ tứ. Hai đới này phân cách nhau bởi đứt gãy phương TB-ĐN kéo dài qua rìa đông Đông Hà, thành cổ Quảng Trị, thị trấn Hương Trà và phía bắc thành nội Huế. Đứt gãy này được phát hiện qua tài liệu địa vật lý và khoan sâu.
    2.2.1. Đới nâng trong Neogen, sụt lún yếu trong Đệ tứ.
    Đới này nằm ở phía đông vùng nâng tạo núi lặp lại TKT. Trầm tích Đệ tứ ở đây có đặc điểm sau:
    - Trầm tích tạo nên thềm bậc I với diện phân bố khá rộng
    - Trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp trên móng đá gốc Paleozoi và granit phức hệ Hải Vân
    - Mặt cắt trầm tích không đầy đủ, vắng mặt hệ tầng Tân Mỹ.
    - Về mặt nguồn gốc, chủ yếu là các kiểu nguồn gốc thành tạo trong môi trường hỗn hợp
    - Bề dày trầm tích thay đổi từ 20 - 60m.
    2.2.2. Đới sụt lún trong Neogen - Đệ tứ.
    Đới này nằm ở phía đông của đồng bằng QTTTH, bao gồm diện tích các đồng bằng trũng thấp, phá Tam Giang, đę cát ven biển và bãi triều hiện đại. Trầm tích Đệ tứ ở đây có những nét đáng chú ý như sau:
    - Trầm tích có diện phân bố rộng, tạo nên sự đa dạng về đặc điểm địa hình, địa mạo và thành phần trầm tích
    - Mặt cắt trầm tích có đầy đủ các phân vị địa tầng tuổi từ Q1 đến Q23.
    - Nguồn gốc trầm tích chủ yếu là hỗn hợp và biển
    - Bề dày trầm tích khá lớn, thay đổi trong khoảng 60 – 163 m.
    - Các trầm tích Holocen có sự phân dị theo không gian. Dựa theo đặc điểm phân bố, nguồn gốc và địa tầng của trầm tích Holocen, có thể phân chia ra 5 kiểu mặt cắt khác nhau [11], mỗi kiểu phản ánh xu thế của chuyển động nâng, hạ trong kiến tạo hiện đại.
    3. Tiến hoá các thành tạo trầm tích Đệ tứ
    Dựa vào các kết quả nghiên cứu đã trình bày ở trên, lịch sử tiến hoá các trầm tích Đệ tứ ở vùng đồng bằng QTTTH có thể chia thành 5 giai đoạn như sau:
    3.1. Giai đoạn Pleistocen sớm ( QI )
    Giai đoạn này tương ứng với băng hà Gunz và gian băng Gunz – Mindel, có các đặc điểm nổi bật như sau :
    - Vùng tích tụ hẹp và hoàn toàn nằm trong đới sụt lún trong Neogen - Đệ tứ.
    - Vào đầu giai đoạn này khi đường bờ biển còn nằm ở xa trên thềm lục địa (do biển lùi vào cuối Pliocen), các trầm tích trong vùng nghiên cứu chủ yếu được thành tạo trong điều kiện lục địa với các tích tụ hạt thô, thành phần đa khoáng thuộc phần thấp của hệ tầng Tân Mỹ nằm lót đáy trầm tích Đệ Tứ.
    - Cuối giai đoạn, đường bờ biển di chuyển về phía lục địa (biển tiến). Tuy nhiên, ở vùng nghiên cứu chưa có mặt trầm tích biển, chỉ có các thành tạo hỗn hợp nguồn gốc sông - biển với thành phần hạt mịn chiếm chủ yếu. Đôi nơi trầm tích sông - biển bị đầm lầy hoá có chứa nhiều di tích thực vật.
    Sau kỳ biển tiến là kỳ biển thoái. Các trầm tích hạt mịn ở phần trên của hệ tầng Tân Mỹ bị phong hoá bóc mòn trong thời gian này.
    3.2. Giai đoạn Pleistocen giữa - Pleistocen muộn, phần sớm (Q1 2-3 )
    Đây là giai đoạn tương ứng với băng hà Mindel và gian băng Mindel – Riss, có các nét đặc trưng sau:
    - Vùng tích tụ được mở rộng hơn so với giai đoạn trước. Phạm vi tích tụ trầm tích bao gồm cả vùng nâng TKT và vùng sụt lún TKT.
    - Trầm tích có sự biến đổi theo thời gian và theo không gian:
    + Theo thời gian: vào đầu giai đoạn, khi đường bờ biển còn ở xa, các trầm tích trong khu vực nghiên cứu được thành tạo trong điều kiện lục địa với các tích tụ sông - lũ và sông với trầm tích hạt thô thành phần đa khoáng chiếm chủ yếu. Cuối giai đoạn, khi đường bờ biển di chuyển vào gần lục địa, trầm tích được thành tạo trong môi trường hỗn hợp, thành phần hạt mịn là chủ yếu. Mặt cắt trầm tích từ dưới lên trên, có độ hạt giảm dần.
    + Theo không gian: trầm tích chuyển tướng theo xu hướng ap® a® am theo phương từ đồng bằng ra biển.
    - Xuất hiện một số trũng sụt lún cục bộ ở vùng nâng TKT như trũng Hương Hồ (Huế), trũng sông Cam Lộ (Quảng Trị) với các trầm tích hạt thô.
    Do vận động nâng trong giai đoạn sau mà các tích tụ nguồn gốc sông - lũ ở ven rìa đồng bằng được nâng cao diễn ra quá trình phong hoá tạo kết vón cứng chắc và có hàm lượng Fe203 tăng cao.
    3.3. Giai đoạn Pleistocen muộn, phần muộn (Q13 )
    Giai đoạn này tương ứng với băng hà Wurm và có những đặc điểm sau:
    - Thời kỳ đầu chủ yếu là các trầm tích hình thành trong điều kiện lục địa. Trầm tích sông - lũ, sông hạt thô chiếm chủ yếu, thành phần đa khoáng.
    - Sau đó biển tiến cực đại đã vào tới rìa đồng bằng. Vật liệu trầm tích biển chủ yếu là cát, cát bột.
    - Sau kỳ biển tiến, đường bờ biển lùi tới độ sâu 100-120m nước [6]. Các trầm tích thành tạo vào giai đoạn biển tiến lộ trên mặt bị phong hoá tạo màu sắc loang lổ. Vùng ven rìa đồng bằng tiếp tục được nâng cao, các trầm tích biển, sông - biển của hệ tầng Phú Xuân ở đây tạo nên thềm bậc II.
    3.4. Giai đoạn Holocen sớm - giữa (Q 21 - 2 )
    Đây là giai đoạn tương ứng với kỳ biển tiến Flandri. Từ khoảng 18.000 năm cách ngày nay, mực nước biển bắt đầu dâng lên. Trong khi mực nước biển tiếp tục dâng cao thì diện tích nghiên cứu vẫn là lục địa, trong các lỗ khoan sâu ở vùng ven biển có một lớp trầm tích hạt thô nguồn gốc sông nằm lót đáy trầm tích Holocen. Cách ngày nay khoảng 10.000 năm, mực nước biển ở Đông Nam á là -50 m (hay -47m) [8, 9]. Vào khoảng 8000 - 7000 năm cách nay, mực nước biển ở vùng biển ven bờ QTTTH đạt độ sâu 25 – 35 m so với mực nước biển hiện nay. Có lẽ vào thời gian này, mực nước biển tạm ngưng nghỉ hoặc dâng chậm lại đã hình thành những đę cát ở độ sâu 25-30 m nước [4]. Phía trong các đę cát này là những đầm phá, lạch triều cổ, hiện tại còn lộ ở đáy biển .
    Đến khoảng 6000 - 4500 năm cách nay, mực nước biển đạt cực đại. Lúc đó mực nước biển đã vào tới ven rìa đồng bằng, hình thành các trầm tích biển ở đây. Mức độ sụt lún trong chuyển động kiến tạo hiện đại khác nhau đã tạo nên các môi trường trầm tích khác nhau. Dọc theo ven rìa đồng bằng từ phía nam Cửa Tùng đến huyện Phong Điền và huyện Hương Thuỷ là môi trường biển ven bờ có tác động của sóng với các tích tụ bãi cát, cồn cát, sau này nổi cao tạo địa hình cát. Còn ở vùng thành phố Huế và một phần thuộc 2 huyện Hương Trà, Phú Vang là vụng biển có cửa sông đổ vào, môi trường khá yên tĩnh với các tích tụ hạt mịn giàu di tích động vật và thực vật [11]. Các trầm tích này phát triển liên tục suốt từ Holocen sớm đến Holocen muộn và được Nguyễn Ngọc xếp vào điệp Huế [5].
    3.5. Giai đoạn Holocen giữa - muộn và Holocen muộn (Q 2 2- 3 và Q23 ).
    Đây là giai đoạn biển lùi sau biển tiến Flandri. Trong giai đoạn này có những nét đặc trưng sau:
    - Đę cát kéo dài từ nam Cửa Việt đến cửa Tư Hiền được hoàn thiện, phía trong đę cát này là một đầm phá cổ có diện tích rộng hơn nhiều so với phá Tam Giang.
    - Hình thành lớp than bùn sau biển tiến nguồn gốc sông - biển - đầm lầy(am. Kết quả phân tích 2 mẫu than bùn bằng phương pháp C14 cho tuổi từ 1340 ± 60 đến 1370 ± 60 năm và từ 2160 ± 60 đến 2200 ± 60 năm cách nay.
    - Hình thành tích tụ sa khoáng trong các trầm tích nguồn gốc biển, biển - gió.
    - Có sự phân dị mạnh về địa hình, địa mạo và sự đa dạng về nguồn gốc trầm tích (9 kiểu). Trên bình đồ hiện đại có những trũng sụt lún kéo dài theo bờ biển nằm xen giữa các gờ nâng, trong đó đáng chú ý là trũng Hải Lăng - Phá Tam Giang - Đầm Cầu Hai, trũng Gio Linh - Triệu Phong, trũng Hương Thuỷ. Trong trũng lộ trầm tích trẻ hơn ở gờ nâng [11].
    KẾT LUẬN
    Qua những vấn đề đã trình bày ở trên có thể rút ra một số kết luận sau:
    1. Ranh giới Neogen / Đệ tứ vùng đồng bằng QTTTH được xác định là đáy của lớp trầm tích hạt thô thuộc hệ tầng Tân Mỹ (Q11tm). Kết quả bước đầu cho thấy đây là ranh giới không chỉnh hợp.
    2. Theo nguồn gốc, trầm tích Đệ tứ có 9 kiểu thuộc 6 phân vị địa tầng có tuổi khác nhau. Các kiểu nguồn gốc này có thành phần vật chất, cổ sinh và địa hoá môi trường đặc trưng, thể hiện điều kiện động lực môi trường khác nhau.
    3. Tiến hoá trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng QTTTH gắn liền với sự thay đổi mực nước biển (do ảnh hưởng của băng hà và gian băng) và các chuyển động kiến tạo nâng hạ địa phương. Sự thay đổi mực nước biển có tính chất khu vực tạo ra bức tranh chung về lịch sử phát triển, còn yếu tố kiến tạo có tính chất đặc thù địa phương và có tác dụng làm phức tạp thêm quá trình phát triển của đồng bằng. Kết quả là trên những đới cấu trúc TKT, trầm tích Đệ tứ có thành phần vật chất, môi trường thành tạo và bề dày khác nhau.
    Lịch sử tiến hoá trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng QTTTH có thể chia làm 5 giai đoạn từ Q1 đến Q23. Các giai đoạn từ Q1 đến Q21-2 có mặt cắt từ dưới lên trên thể hiện kiểu mặt cắt biển tiến, còn giai đoạn Q22-3 - Q23, mặt cắt thể hiện quá trình biển lùi.
    Do sự phân dị của chuyển động kiến tạo trong Holocen mà các trầm tích tuổi Pleistocen ở ven rìa đồng bằng được nâng cao tạo thềm bậc II, bậc III, còn ở trung tâm đồng bằng và ven biển chúng bị phủ dưới các trầm tích trẻ hơn.
    4. Vai trò của biển tăng cao trong Đệ tứ muộn (Q13 đến Q2). Quan hệ cộng sinh đę cát - đầm phá ít nhất xuất hiện từ cuối Q13 đầu Q21. Các đầm phá cổ (hiện đã bị chôn vùi) có phạm vi phân bố rộng lớn hơn nhiều so với Phá Tam Giang.
    Bài báo được hoàn thành với sự giúp đỡ và góp ý của GS-TS Trần Nghi, TS Đŕo Văn Thịnh, KS Phạm Huy Thông, KS Đỗ Văn Long. Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành.

  • Công việc và niền đam mê mới ( Profession & Pa

    Ngày 21/08/2008
    Một thú vui mới xuất phát từ mỗi chuyến đi khảo sát và khai thác. Hôm qua trên đường đi tìm và mở rộng bãi khai thác đá cuội grabo nhập cho nhà máy. mình đã phát hiện ra một khúc sông có nhiều các khối đá đẹp. rất tiếc là không mang theo máy ảnh, có lẽ là phãi mua một chiếc. Hoà quyện với cảnh nước biếc là các tảng đá muôn hình muôn vẽ màu xám xanh, xám tráng từ đá vôi hoa hoá đến đá dolomite vân mây.
    nơi tiếp xúc với đá magma đá rất nhiều hình dáng, mình đi quanh để chọn có rất nhiều viên nhưng cuối cùng mình chọn được hai viên thạch anh ( Men & Women ) một màu vàng một màu tráng. và một vài viên đá hoa hình núi vân ngang. Mồ hôi đã đẩm khi lăm một viên nặng 30kg ra đường để xe máy. chất 2 viên đá lên xe khoảng 50kg nhưng rất khó vì phải chạy qua một đoạn sông. Đúng lúc ra đến giữa dòng thì mình không thể điều khiển chiếc xe nằm bẹp giữa dòng nước trong vắt sâu 50 -60cm, bị kẹt 2 viên đá nên khá lâu mình mới dựng xe lại dược, mình nghe tiếng gì ọc oc chảy vào trong xe, khi dắt xe được qua bờ thì mình thấy còi, kim đồng hồ điều bật lên, phải rút cầu chì dắt xe hơn hai 3km qua một con dốc đài với một chiếc xe địa hình nặng 120kg thật là một cực hình. áo quần ướt đẩm miệng khô khốc. đến tiệm xe gặp phải người chữa không chuyên mình lại hết hơi vừa làm vừa chỉ cho họ tháo pô để xã nước dù rất đến 12h trưa mới xong dù rất mệt nhưng một ngày khá vui vì mình đã tìm được hai tác phẩm ưng ý và tìm được một nguyên liệu mới dù chỉ là dấu hiệu là phiarophilite màu rất trắng sờ tay trơn nằm xem kẹp trong đá hoa và có lẽ là đá dolomite ở khu vực Thừa Thiên Huế. Đây là một ngliệu khoáng rất tốt trong ngành ceramic mà tài liệu địa chất 50 nghìn chưa nghe gì cả. Mình sẽ nghiên cứu thêm vấn đề này.

  • Đồ sứ men lam Ung Chính (Thanh- TQ)

    Tìm hiểu: Đồ sứ men lam Ung Chính (Thanh- TQ)



    Triều đại nhà Thanh (1644- 1911) đặc biệt ba triều Khang Hy, Ung Chính, Càn Long ngành chế tác đồ sứ đã đạt đến đỉnh cao hưng thịnh. Cả ba vị vua này đều rất yêu thích đồ sứ, vua Khang Hy đặc biệt coi trọng khoa học kỹ thuật du nhập từ phương Tây, từ đó đặt nền tảng cho sự phát triển ngành gốm sứ đạt đến trình độ cao nhất trong lịch sử.



    Bình sứ men lam Ung Chính với lạc khoản viết 6 chữ "Đại Thanh Ung Chính niên chế" trên miệng bình


    Thời Ung Chính (1723-1735) là thời kỳ thịnh thế của nhà Thanh, nhờ nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa vững chắc thời Khang Hy để lại. Vua Ung Chính chẳng những có công hoàn thiện dây chuyền chế tác gốm sứ theo kiểu “Quan xây dân nung” được khởi xướng từ thời Khang Hy, khiến cho các lò quan, lò dân cùng phát triển, công nghệ chế tác không ngừng nâng cao, mà ông còn có trong tay hai vị quan coi lò kiệt xuất là Niên Hy Nghiêu và Đường Anh. Thời kỳ này, những món đồ xuất xứ từ lò Cảnh Đức Trấn, dù là lò quan hay lò dân đều có chất sứ mịn màng, công nghệ tinh xảo, tạo hình nghệ thuật, sản phẩm vô cùng đa dạng, có đủ các màu men, trong đó đồ sứ men lam đặc biệt nổi bật. Các chuyên gia nghiên cứu cổ vật đều nhìn nhận rằng, sứ men lam Ung Chính vượt trội hơn cả hai triều Khang Hy và Càn Long.


    Bộ 6 chén trà dân dụng thời Ung Chính, men màu đồng


    Phôi sứ và men lam Ung Chính

    Đất phôi được chọn lọc rất kỹ, các công đoạn nghiền mịn, lắng lọc, tạo phôi đều thực hiện một cách nghiêm túc. Nhờ nung ở độ lửa thích hợp, trình độ sứ hóa tốt nên các món đồ làm ra tuy phôi nhẹ và mỏng hơn thời Khang Hy nhưng thể phôi trắng mịn, chắc chắn, tạo hình đúng qui chuẩn, rất được ưa chuộng. Vẻ đẹp của đồ sứ thời kỳ này có thể sánh với thời Vĩnh Lạc, Thành Hóa (Minh). Sứ men lam Ung Chính có độ sáng, thể phôi trơn, vật dụng lớn không tạo cảm giác nhìn nặng nề, những món nhỏ thì tinh xảo, lung linh. Người thợ rất chú trọng việc nặn phôi, hầu như không thấy vết cắt gọt, vết hằn nơi tiếp miệng, chân món đồ khá sâu, được cắt gọt tỉ mỉ.


    Chén trà vẽ men lam, cổ vật tàu chìm ở Cà Mau


    Chất men mịn, màu men đều, bề mặt sáng, phảng phất sắc men như sứ Tuyên Đức đời Minh, khác hẳn với cách pha màu hồn hậu, chất phác thời Khang Hy. Trên các món đồ, do men tụ khá dày, hình dạng như đám mây nên gọi là “men mờ” hay “men nước bọt”. Da sứ phủ men trắng hoặc trắng ánh xanh (cụ Vương Hồng Sển gọi là màu trứng diệc), tầng men dày, mịn, trên mặt sáng bóng.

    Tạo hình sứ men lam Ung Chính

    Phong cách nhẹ nhàng, thanh tú, đường nét dịu dàng, ưa nhìn. Tỷ lệ các bộ phận cân đối, liền lạc, nhờ vậy mà đồ sứ Ung Chính được xem là một trong những dòng sứ có tạo hình đẹp nhất đời Thanh.



    Sản phẩm của các lò chủ yếu là đồ dân dụng như: tô, chén, dĩa, tách uống trà, nhạo đựng rượu và các vật dụng nhỏ, ngoài ra còn làm những món sứ lớn vóc để trưng bày như: Mai bình, bình Hồ lô, bình Tứ liên, bình Quả trám, bình rượu Quan âm, bình rượu Như ý, lư hương và các loại vò, chậu... Thời kỳ này có không ít đồ sứ men lam mô phỏng đời Minh và thời Khang Hy, tuy là “đồ giả” nhưng được làm hết sức tinh tế, khó phân biệt.

    Màu men lam Ung Chính

    Sứ men lam Ung Chính sử dụng màu giống như thời Khang Hy, đó là men xanh nội địa sản xuất ở Chiết Giang, loại men xanh này rất thịnh hành vẽ trên đồ sứ vào cuối đời Minh. Men lam Ung Chính chủ yếu có hai loại:

    1. Màu xanh mang phong cách sứ Khang Hy: màu xanh biếc, tươi sáng, trông hơi nhạt nhưng lắng đọng, có quầng tán, mức độ hiện màu khá ổn định.

    2. Màu xanh bắt chước chất Hồi thanh nhập khẩu thời Tuyên Đức (triều Minh): màu lam đậm, hiện màu không ổn định, quầng tán rõ, có nhiều đốm gỉ nổi trên bề mặt và thấm vào cốt phôi, nhìn có cảm giác sần sùi. Loại men lam này thường sử dụng vẽ trên các món đồ da trắng ánh xanh.

    Hoa văn trang trí sứ men lam Ung Chính

    Sứ men lam Ung Chính sử dụng nét bút mềm mại, bố cục đơn giãn, người thợ như truyền hết cái thần của mình lên nét vẽ tinh tế, rõ ràng. Hoa văn trang trí thường thấy: hoa lá, cầm thú, hoa điểu, thiếu nữ, trẻ em, sơn thủy, bát bửu đồ, điển tích...


    Đồ sứ men lam dân dụng thời Ung Chính (cổ vật tàu chìm ở Cà Mau)


    Lạc khoản (đề hiệu) trên sứ men lam Ung Chính

    Thời Ung Chính, việc đề hiệu dưới các món đồ được giao cho thợ chuyên nghiệp, do vậy mà bút pháp, các thể chữ viết về cơ bản khá giống nhau. Thể chữ Khải và Triện đồng thời được ưa chuộng, nhưng chữ Khải chiếm đa số. Lạc khoản niên hiệu trên sứ các lò quan sản xuất chủ yếu viết 6 chữ:”Đại Thanh Ung Chính niên chế”. Lạc khoản có thể được viết thành 2 dòng 6 chữ, hoặc 3 dòng 6 chữ. Bên ngoài có thể có hai vòng tròn đồng tâm hoặc đóng khung chữ nhật, khung vuông đôi.


    Lạc khoản đồ sứ Ung Chính


    Ngoài 6 chữ “Đại Thanh Ung Chính niên chế”, đồ sứ men lam Ung Chính còn có lạc khoản viết thể chữ Khải, ghi 4 chữ “Lãng ngâm các chế”. Lãng ngâm các là tên một thư trai của vua Ung Chính khi chưa đăng cơ, đang thụ phong tước Ung Thân vương.

    Để phân biệt đồ sứ các lò dân thời Ung Chính ký lạc khoản 6 chữ “Đại Thanh Ung Chính niên chế” cũng không khó, vì chữ viết tháo, tùy tiện, hoặc chỉ ký 4 chữ “Ung Chính niên chế” xếp thành hình vuông. Thời kỳ này đồ sứ lò dân xuất hiện một loại lạc khoản phổ biến là con dấu vuông, gọi là “hũ kì”, trong khung vuông vẽ các loại hoa lá hay hình tượng muôn vật. Lại có lạc khoản chỉ viết một chữ “Chính”, xung quanh vẽ trang trí hoa lá.

    SONG MỘC


    Tài liệu tham khảo: Trung Quốc Thanh hoa từ - Nhà xuất bản Thượng Hải Cổ tịch, Trung Quốc cổ đào từ – Nhà xuất bản Thượng Hải, Đào từ nghệ thuật – Nhà xuất bản Mỹ thuật Hắc Long Giang.

  • Lịch sử của ngành sản xuất gạch nung

    Gạch làm là một thương mại cổ.
    Làm gạch là một ngành kinh doanh cổ sưa. Chúng tôi đọc trong Kinh thánh có nói người Israelites đã làm cho gạch từ Bùn cho các Pharaoh. Những viên Gạch Bùn sấy dưới mặt trời vẫn còn làm ở Ai Cập cho đến hôm nay, Khi Chúng ta nghĩ đến quá trình làm gạch là chúng ta nghĩ đến đất sét rồi đưa vào lò để làm cho nó cứng. Những ngôi nhà làm từ gạch là bắt buộc ở Toronto đặc biệt là sua các cuộc hoả hoạn lịch sử vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.. Nhiều cái Nhà lịch sử được mô tả trong trang web này được làm từ gạch. Ba ví dụ là cái Nhà Ferguson, cái Nhà giả hơn Và Caverhill. ở dưới là một bức tranh (của) những dinh thự Gạch (của) một kiểu thường xuyên được nhìn thấy trong chất xám trung tâm não Toronto..
    Vào thế kỷ thừ 2 dau công nguyên một khi sự định cư bắt đầu những Đồ gốm và Gạch nhiều việc làm những sự thiết lập đã vận hành Trong vùng Toronto. Trong khi(lúc) một số Gạch được chế tạo (kẻ) khác làm những mẫu (dạng) khác (của) Đồ gốm. Những Đồ gốm Sớm đáng chú ý Trong website này Bao gồm : Những sự thiết lập (của) gia đình những qủa lê ở Yorkville và tại chỗ (của) Eglinton Đỗ Walmsley là Đồ gốm gần Davisville; Math cha xứ' Trên nông trại (của) anh ấy gần Fairbank Và The Shell-fish Những công việc Gạch Thung lũng. Có nhiều những người (cái) khác.
    Qúa trình sản xuất gạch xây thay đổi qua nhiều năm. Những nhà sản xuất Gạch trước đây có lẽ đã sử dụng những đất xốp Đơn giản để đúc Gạch của họ và nung chúng trong những lò hộp tương tự như người (vật) trong bức tranh ở trên. Những nhà sản xuất tiến bộ như Taylors đã sở hữu và quản lý The Shell-fish Thương hiệu Valley _Brick -Works, dùng những phương pháp gần đây nhất trong nhiều cách. Gồm cơ giới hóa tạo hình viên gạch và sự sử dụng những lò đứng đi xuống liên tục. Sự đào bới Bàn tay nhường cho những máy xúc dùng hơi nước mà được thay thế bởi sức mạnh động cơ diesel. Qúa trình trộn nghiền đơn giản đã thay bởi quá trình tiên tiến hơn với các máy móc hiện đại hơn.
    Trong một thế kỷ The Shell-fish Valley vận hành, từ 1889 khi Nó bắt đầu khi một cây gạch ép ớt, cho đến Nó ngừng sự sản xuất vào 1989, quản lý (của) Nó đều đặn cải thiện xử lý phương pháp. Những thí nghiệm Thành công trong việc làm gạch ép sử dụng diệp thạch ( sét bán phong hóa)dẫn đến một sự mở rộng trong sản xuất .Điều này không còn phụ thuộc vào các loại sét dẻo và các. The Shell-fish Valley đã nhận giải thưởng về chất lượng và sản phẩm vào 1890 s. Đến thập niên 1970 S, trong khi một sốđất sét vẫn có sẵn có n trên hững lớp trên của mỏ, và nó vẫn tiếp tục được sử dụng. Diệp thạch ( phiến sét ) đã trở thành nguyên liệu chính của quá trình sản xuất gạch.
    Vào 1912, Một số gạch vẫn còn được định hình thành Trong những khuôn cát , nhưng được cắt bởi Dây thép cắt. t đứt Trong kích thước gạch từ một cột liên tục (của) đất sét bởi những Dây. Gạch khối xây rỗng được làm Trong cùng kiểu cách với gạch cắt bằng dây thép, nhưng với những viên phía trong đuợc làm rổng. Gạch qua khuôn cắt phải được sấy trước khi đưa lên xe gòn đưa đến những máy sấy đường hầm từ đó họ đi đến lò đứng liên tục có thanh tải đi xuống. Những gạch ép khô có thể đi trực tiếp từ sấy đến lò, chúng không yêu cầu quá trình sấy. Lò có lò đơn và lò đôi chạy liên tục được đốt bằng gổ và than mền, ngoài trừ một số lò liên tục lớn đốt bằng gas. Gạch được nung từ 7 đến 10 ngày tùy theo quá trình làm mát.
    Trong số những sản phẩm khác nhau Của The Shell-fish : Softmud ( gạch sét mền), những gạch ép khô hay gạch cắt cắt dây, những gạch ép, gạch vôi cát, những ngói đồ gốm trang trí và khối xây rỗng cấu trúc khô pieces. Dưới Taylors, một sự đa dạng rộng (của) các chủng loại Gạch đất sét sẵn sàng trong mười tông màu đỏ, bảy tông màu da bò, vàng ôliu dấu cộng, opxiđian nâu Và mottled. Đó là đầu tiên, và trong nhiều năm và đầu tiên ở Canada, sản xuất gạch tráng men (enamelled).

    Gạch đùn bán dẻo được làm với hoặc đất sét hoặc diệp thạch nền, làm dịu đi tới một sự bền chặt nhiều nước hơn được yêu cầu so với (cho) Gạch-ép bán khô, nhưng ít hơn so với gạch bùn đổ khuôn. Gạch được định hình qua các máy đùn liên tục. năng sản xuất hơn 20, 000 Gạch/ hour. g Gạch (thì) bằng tay được chồng lên lên trên những xe gòn (cho) chuyển đổi tới một phòng có nhiệt độ nóng 100° F (42.5° C). Những xe gòn (thì) rồi được gửi xuyên qua một máy sấy đường hầm, trước khi vào lò nung tunel dài 376 foot- . Nếu Gạch xanh lục không đã sấy, chứa sự ẩm ướt đã có thể quay về hơi nước trong lò đường hầm và cuốn đi những Gạch về một bên. Những ô tô được đẩy một tại một thời điểm vào trong một buồng (phòng, hộp) đi vào với cái cửa bên trong shut. Một lần đúng chỗ, cái cửa ở phía ngoài được đóng và cái cửa bên trong mở cho phép ô tô để vào một khu vực preheat, rồi một khu vực đốt cháy, một khu vực giảm (phép rút gọn) làm cho trắng ((sự) làm phai màu) và một sự làm mát hút bắt buộc zone. Mỗi lò có thể giữ 38 ô tô và ô-pe-ra
    Dry-press brick were usually made from ground shale, tempered with only a small amount of water. Bricks were formed under pressure in steam-heated steel moulds; pressure applied by an overhead steel plunger provides cohesion to the brick in lieu of sufficient water for plasticity. Dry-press machines make four to six bricks with each cycle, and are capable of making 2,000 brick per hour. At the Don Valley Brick Works, the clay, which was conveyed to a mixer where water was added to 5 to 8 per cent moisture content. This mixture was thenconveyed to presses. After pressing, the green bricks were sorted and loaded onto cars. Those bricks to be glazed were transported to a spray hood for an enamel glaze application. Coloured enamels were formulated from various oxides and ceramic stains in a glaze mixing room. Glazed brick received an even coat of colour over the surface(s) required, "Glazetex" brick received a splattered glaze that coated 80 to 85 per cent of the surface(s). These brick then travelled by conveyor through a preheater hood where they were baked to 450°F (260°C), which allowed gently handling and loading of 1100 bricks per car for firing in a 212 foot long tunnel kiln. This
    kiln operated on Bunker C fuel oil to a peak firing temperature of 1850°F (1130°C) and could accommodate 79 cars at a rate of 14 cars per day. Later 376 foot long natural gas tunnel kilns firing to 1880°F were installed. After cooling, the bricks were sorted into 500 brick cubes and stored awaiting shipment.
    Đúc xiên yêu cầu Một sét lẫn cát, được làm dịu đi với rất nhiều nước, vì vậy lô sẽ chảy sẵn sàng vào trong cây gỗ được phủi bụi bởi cát moulds. Những máy bùn- Mềm làm năm Gạch với mỗi chu trình và (thì) có khả năng làm cho 2, 000 là Gạch hour. Phương pháp thực chất là Một sự tinh luyện (của) quá trình bùn bùn đặc già (cũ) hơn, trong những Gạch nào được làm bằng tay trong cây gỗ riêng lẻ moulds. Muộn đúng 1906, vài brickyards còn trong việc sử dụng quá trình bùn bùn đặc. Tại The Shell-fish Những công việc Gạch Thung lũng, bùn Mềm " John Price " Những Gạch được làm bằng việc làm dịu đi Một sự pha trộn cát đất sét với tới 30 phần trăm nước. Hai mươi tôi luyện những con dao trên Một tay cầm thẳng đứng gượng gạo sự pha trộn đất sét xuống tới nơi những khăn mùi xoa trên tay cầm bắt buộc đất sét vào trong diễn đàn báo chí và Một thợ lặn nhấn (nén) đất sét để hoàn toàn hoàn thành cho Một năm Gạch đất xốp. Thợ lặn đã có thể được điều chỉnh đối với một trong số bốn pressures. Một đất xốp đầy được ném(bỏ) khi Một rỗng tươi mới đổ cát đất xốp inserted. Những số lượng Nhỏ của borac, đioxit ferro- tủy xương đỏ hay chất măng gan được thêm vào cát, như được yêu cầu, để sản xuất mong muốn colour. Máy đã có thể sản xuất được 3000 Gạch trên giờ, nhưng thông thường sự sản xuất gần 2400 Gạch trên giờ. Những Gạch xanh lục được đổ xuống năm ở Một t

  • Người đưa sét đồi PH đầu tiên vào sản xuất

    Trước trận lụt thế kỹ năm 1999, tại Thừa Thiên Huế ngành sản xuất gạch nung phần lớn là sản xuất thủ công tập trung ở các địa phương từ Phong điền đến Phú Lộc. và một nhà máy gạch tunel số 1 ở Hương Trà do công ty sản xuất vật liệu. Dân Huế từ xưa vẫn quen gọi từ gạch Nam Thanh một làng nghề chuyên làm gạch thủ công thuộc Huyện Hương Trà.
    Ngyuên liệu để làm gạch ngói chủ yếu là sét ruộng màu xám vàng có nguồn gốc trầm tích hiện đại được người nông dân khai thác ven các lò gạch. Thường là các cồn sét hoặc hạ thấp các ruộng một vụ.
    Trong thời gian này Nhà máy tunel 1 Hương trà vẫn theo truyền thống củ gạch nung thủ công dùng sét ruộng khai thác ở các xã thuộc xã Hương An, Hương Xuân.
    Sau trận Lụt 1999 rất nhiều lò gạch thủ công bị hư hại hoặc biến mất hoàn toàn. Cùng chung số phận một chủ lò gạch ở xã Phú Thượng huyện Phú Vang cũng bị lũ cuốn đi lò gạch.
    Người chủ lò gạch đó tên là Phúc ở Đường Lê Thánh Tôn sau nhiều ngày suy nghĩ đã quyết đị đưa xây một lò gạch thủ công mới tại vùng đồi Dốc Chè thuộc xã Hương Hồ đây là một quyết đinh táo bạo nhất trong nghề làm gạch thời bấy giờ vì lò gạch là phải gắn với nguyên liệu mà nguyên liệu đất sét là phải vùng ruộng.
    Tư tưởng này thể hiện rất rỏ ở vị trí xây dựng nhà máy gạch tunel 1 ở khu vực Hương Trà thời bấy giờ nay để lại không ít bất cập cho các em nhỏ và dân địa phương.
    Để có những quyết định táo bạo dù là một lò gạch thủ công, Anh Phúc đã nhờ đến người có chuyên môn là một kỹ sư địa chất phụ trách một mỏ sét trắng ở Thôn Chầm của Công ty HUCERA. tìm kiếm và khảo sát đất sét đồi phong hoá thuộc hề tầng D1-2 tl tại các khu vực Hương Hô, Hương Thọ. Vì vầy vì chủ động được nguồn nguyên liệu dồi dào và có trữ lượng lớn, đất sét được ủ đúng thời gian. Lò gạch anh Phúc thời bấy giờ khá nổi tiếng. Và đã liên kết với xí nghiệp xây dựng số 6 của Sở xây dựng TT Huế.
    Tiếp thu nhanh phát kiến của một chủ lò thủ công, Công ty xây lắp TT Huế hình thành dự án nhà máy gạch tunel 3 mới thận trọng sử dụng một phần sét đồi ở mỏ sét Tân Ba - Hương Thuỷ. Dù họ có công nghệ đùn chân không.
    Trung Đan

  • Mỏ sét ở Hà Nam

    Mỏ sét ở Hà Nam

    1. Mỏ sét xi măng Thanh Tân

    Mỏ sét xi măng Thanh Tân ở huyện Thanh Liêm chứa sét phân bố trong lớp aluvi sông Đáy, mặt cắt chứa sét từ dưới lên gồm 3 lớp:

    * Lớp sét tạp sắc màu nâu xám, xám đen lẫn mùn thực vật, chưa rõ chiều dày;
    * Lớp sét màu tạp sắc vàng xám hoặc vàng tươi, dày 0,7- 3,3m, ngấm ít hydrôxyt sắt, mịn dẻo đạt yêu cầu sản xuất xi măng;
    * Lớp sét màu nâu nhạt, dưới chuyển sang vàng, dày 0,7- 2,5m, tương đối dẻo, hạt nhỏ đến trung bình, có giá trị công nghiệp.

    Thành phần sét trong mỏ gồm SiO2 59,49%, Al2O3 17,78%, F2O37,27%,…Mỏ sét Thanh Tân có trữ lượng tiềm năng khoảng 2,224 triệu tấn.

    2. Mỏ sét xi măng Khả Phong

    Mỏ sét xi măng Khả Phong ở huyện Kim Bảng là mỏ đá sét công nghiệp phân bố trong trầm tích biển thuộc hệ tầng Hải Hưng. Sét tạo thành dải dài 2600m, rộng trung bình 250m. Mỏ gồm hai khu (1 và 2). Sét kết màu xám đen, xám tro, đôi khi phớt xanh. Trên mặt màu vàng và màu nâu sẫm do phong hóa. Khoáng vật sét chiếm 70%. Thành phần hóa học của sét gồm CaO 0,63- 4%, MgO 3%,…

    Trữ lượng tiềm năng của mỏ khoảng 21,453 triệu tấn.

    3. Mỏ sét xi măng Đồng Ao

    Mỏ sét xi măng Đồng Ao ở huyện Thanh Liêm chứa sét phân bố trong trầm tích aluvi sông Đáy. Từ trên xuống gồm 3 lớp:

    * Sét đen, xám đen, lẫn nhiều vụn thực vật có các ổ cát dày 0,2- 1,8m;
    * Sét tạp sắc (nâu xám, xám xanh, xám tro, xám trắng), hạt mịn, dẻo, ít tạp chất, dày 0,3- 1,3m nằm ngang. Đây là lớp sét có giá trị công nghiệp.
    * Sét màu nâu, có kết hạch silic, dày 0,2-2m có giá trị công nghiệp.

    Mỏ sét phân bố ở hai khu vực: Khu Trung Đồng với lớp sét dài 975m, rộng 225m-600m, dày 2,6m và khu Trung Thứ có lớp sét dài 1950m rộng 800-1300m, dày 0,5-1,7m. Thành phần sét bao gồm SiO2 60,24 – 60,35%, Al2O3 17,39-17,52%, F2O3 5,09 -5,94%,…

    Mỏ có trữ lượng tiềm năng khoảng 4,406 triệu tấn.

    4. Mỏ sét gạch gói Ba Sao

    Mỏ sét gạch gói Ba Sao ở huyện Kim Bảng là mỏ sét có nguồn gốc đầm lầy ven biển, phân bố ở vùng đồi Ba Sao theo phương tây bắc-đông nam, dài 4,5km, rộng 1,5 km. Có 4 lớp sét, trong đó có hai lớp công nghiệp (lớp 2 và 4) với tổng chiều dày hơn 10m. Khoáng vật sét 59,64%, thành phần lớp 2 gồm SiO2 37,97 – 59%, Al2O3 17-18,02%, F2O3 9,35%,…

    Trữ lượng tiềm năng của mỏ là 20,834 triệu tấn.

    5. Mỏ sét gạch ngói Yên Kinh

    Mỏ sét gạch ngói Yên Kinh (Xuân Khuê) ở huyện Lý Nhân chứa sét nằm trong trầm tích hệ tầng Thái Bình có dạng lớp mỏng, nằm ngang, phân bố trong diện rộng, dày 0,5- 10m. Sét màu nâu gụ lẫn cát hạt nhỏ, độ dẻo và độ mịn chưa cao nhưng sản xuất ngói được. Hiện mỏ đã được khai thác để sản xuất gạch ngói với sản lượng 6 triệu viên/năm.

    Mỏ có trữ lượng tiềm năng khoảng 1 triệu m3.

    6. Mỏ sét gạch Duy Hải

    Mỏ sét gạch Duy Hải ở huyện Duy Tiên có sét nằm trong trầm tích sông, thuộc hệ tầng Thái Bình. Sét dạng lớp mỏng, nằm ngang phân bố trên diện rộng 4,5 km2, dày 1,2- 3m. Sét màu nhũ gụ lẫn cát hạt nhỏ. Độ dẻo và mịn chưa cao nhưng có thể sản xuất ngói được. Trữ lượng tiềm năng của mỏ khoảng 7 triệu m3.

    7. Mỏ sét gạch ngói Thụy Lôi

    Mỏ sét gạch ngói Thụy Lôi ở huyện Kim Bảng với sét phân bố trong trầm tích hệ tầng Hải Hưng, dày 2100m, rộng 1100- 1530m, dày 1,4- 3m. Sét có màu xám xanh, xám tro, đôi khi phớt xanh. Trên mặt màu vàng và nâu sẫm do phong hóa. Trữ lượng tiềm năng khoảng 5 triệu m3.

    8. Các mỏ sét khác

    * Mỏ sét gạch ngói Phủ Lý ở huyện Thanh Liêm là mỏ có những lớp sét được khai thác để sản xuất gạch ngói lộ trên bề mặt với diện tích vài km2 trong các trầm tích bở rời thuộc hệ tầng Thái Bình. Đây là mỏ nhỏ.
    * Sét gốm Đồng Văn ở huyện Duy Tiên có sét lộ trên bề mặt, dày 1,5m, phủ trên tầng sét là cát màu xám đen chứa tàn tích thực vật, có thể dùng sản xuất gạch ngói và cốm thô.

    Ngoài sét Hà Nam có có nhiều nguyên liệu cát. Điển hình là mỏ cát kết Khe Non ở huyện Thanh Liêm nằm trong trầm tích lục nguyên cát bội kết, sét kết của hạ tầng Tân Lạc. Thành phần hóa học gồm SiO2 66,48- 87,72%, Al2O3 5,3 – 13,46%, F2O3 2,31- 7,09%,… Mỏ có trữ lượng tiềm năng khoảng 19,220 triệu

  • Nguồn gốc nghề gốm


    Written by Trung Dan

    Nước Chứa Trong Đất

    Một ngày cách đây khoảng 15.000 năm, Tại vùng thảo nguyên rộng lớn của Châu Phi. Đã nhiều tuần các nhóm người nguyên thuỷ đầu tiên của Trái Đất phải rải qua đợt hạn hán kéo dài. Họ lê bước dọc theo thung lũng các con sông đang dần khô cạn. Họ dành giật các vũng nước với các loại động vật trên thảo nguyên, trời vẫn tiếp tục nắng chói chang, bệnh tật và khát nước đã làm nhiều người phải rớt lại vì kiệt sức. Dòng di cư tìm nước của các loài ngày càng thưa dần. Nhóm người giờ đây chỉ còn vài người họ chia sẽ những giọt nước cuối cùng cho phụ nữ và trẻ em. Trong vô vọng họ phải dừng lại bên vũng bùn khô đã bị các loài động vật có vú lớn chiếm giữ. Trong nhóm chỉ còn một người mẹ tay bế đứa bé miệng khô cháy, ánh mắt mờ đi trong nắng. Người phụ nữ vẫn tiếp tục lê bước hy vọng tìm được vũng nước cuối cùng cho đứa con trên tay. Rồi trời đã không phụ lòng người, đàng xa một vũng nước còn sót đang lờ mờ trong tầm mắt. Hình ảnh này đã hiện lên trong mắt của số người trong những ngày qua, nhưng đó chỉ là ảo giác. Người mẹ cuối xuống giọt từng giọt nước trên đôi môi khô bỏng của đứa con. Rồi một ý nghĩ chợt thoáng ra trong đầu " Nước Chứa Trong Đất". Cô ta dùng đôi tay khéo léo dùng đất sét tạo thành một dụng cụ để mang nước trở lại cho những người còn sót đang dần chết khát ở lại phía sau.

    Chum đất
    Cách đây khoảng 10.000 năm, tại vùng đồng bằng Lưỡng Hà. Các bộ tộc đã biết trồng lúa và một số cây cho củ có tinh bột. Sau mùa thu hoạch họ có Lúa và màu dự trữ cho một mùa đông băng giá kéo dài. Nhưng rồi lại xuất hiện rất nhiều chuột, chúng cắn phá và ăn hết Lúa dự trữ. Ngày qua ngày chuột sinh sôi rất nhanh, các tộc người tưởng chừng như vô vọng trong cuộc đấu tranh giành thực phẩm dự trữ. Một ngày nọ, một người trong bộ tộc, anh ta đã đào một cái hố trong vùng đồng bằng đất sét, sau đó dùng rơm và củi đốt, đất sét trong hố nung đã cháy cứng lại. Đó những chiếc chum đất đầu tiên của loài người dùng để đựng lương thực dự trữ mà họ hàng nhà chuột không thể cắn phá và xâm nhập được. Những dụng thô sơ đó đã được các nhà khảo cổ học ngày nay tìm thấy. Nó là dụng cụ thô sơ xuất phát từ đất, lữa và cuộc đấu tranh sinh tồn. Cùng với đồ gốm sau này là các dụng cụ đồ đồng, đồ sắt đã hình thành nên nền văn minh Lưỡng Hà một trong nền văn minh đầu tiên của quả đất.

  • Nguyên liệu gạch đất nung một vấn đề không


    Hiện nay thị trường gạch đất nung xây dựng tại TT Huế đang lên cơn sốt, dù giá vật liệu leo thang nhưng nhu cầu xây dựng cơ bản vẫn rất cao - đặc biệt là sau một thời gian dài Huế chìm trong lụt bão và mưa dầm.
    Hiện nay số lượng các nhà máy gạch tunel ở thừa thiên huế chỉ trên đầu ngón tay với công suất cơ bản là 20 triệu viên năm. Ở Phía Bắc có 3 nhà máy - đã hoạt động. Phía Nam có 2 nhà máy trong đó một nhà máy mới đi vào hoạt động. Và 2 dự án với công suất 40 triệu viên đang còn nghiên cứu. Tính sơ bộ hiện tại công suất cơ bản là khoảng 100 triệu viên. Nhưng phần lớn các nhà máy thường đẩy gấp đôi công suất lên đến 40 triệu viên trong năm 2006. Nhưng năm 2007 trời Huế không ưu ái cho nguời làm gạch, mưa lạnh kéo dài là công suất các nhà máy khó tăng vượt.
    Khoảng 1/3 số lượng gạch có chất lượng phải nhập từ các tỉnh bạn là Quảng Trị và Bình Định. Thời điểm hiện nay gạch lên đến 2200 đồng đến 2500 đồng /viên.
    Bên cạnh đó khó khăn nang giải và trầm kha nhất là vấn nạn nguyên liệu đất sét. Do các dự án không đầu tư vào khâu khảo sát thăm dò mỏ đất sét. Nhu cầu đất sét cho một nhà máy tunel một lò có bản khoảng 60 - 80 nghìn m3 đất một năm. với giá thu mua đất đầu vào từ 30 - 40 nghìn đồng một khối. Trong những năm qua các nhà máy chủ yếu là thu mua và nạo vét các ao hồ trong một số xã quanh khu vực nhà máy, nhằm đong đủ nhu cầu trước mắt. Còn khi nói đến việc tìm kiếm cấp mỏ thì ai cũng biết là rất cần thiết nhưng lại nghĩ là khó có thể đạt được, vì nghĩ đến mỏ là nghĩ đến các thủ tục hội đủ để qua một cửa, dù có là một hai hecta mới đào là hết mỏ cũng phải nào là chứng chỉ đầu từ nào là thống nhất các phòng ban từ địa phương đến tỉnh.
    Trong đó một vấn đề nữa là qui hoạch nguyên vật liệu xây dựng của tỉnh là chưa được phê duyệt dù đã thi công và có báo cáo từ năm 2003. Mà dù có được qui hoạch thì qui hoạch nguyên liệu đó cho đến nay nằm trong vùng dân cư theo lộ trình đô thị hoá.
    Dù vậy một số dự án mới ở phía Nam thuộc huyện Phú Lộc đang chuẩn bị khởi công đã có một số công tác chuẩn bị khá tốt cho việc đầu tư vào đánh giá vùng nguyên liệu. Một chủ đầu tư đã có chú ý đến việc sử dụng đất sét cao, vì địa hình ở Phú lộc phần lớn là địa hình đồi trên nền đá granít và một số trầm tích tạo núi. Bên cạnh đó các chủ đầu tư cũng phải chú ý đến đặc tính nguyên liệu và công nghệ tạo hình của gạch nung là đùn bán dẻo vì vậy ảnh hưởng của nguyên liệu lên gạch mộc là rất lớn nhất là hàm lượng hạt gầy kích thước từ 2 - 10mm nằm lẫn khắp nơi trong các địa tầng D1-2 tân lâm ở khu vực Phú Lộc.
    Với Qui mô đầu tư từ 16 - 18 tỷ là có một quả lò công suất cơ bản 20 triệu viên năm cùng với mưa thuận gió hòa và con người phù hợp để đẩy công suất lên gấp 1.5 đến gấp đôi thì chỉ trong vòng 2 - 2,5 năm là thu hồi vốn. Các chủ đầu tư biết vậy nhưng vẫn không dám đầu tư dây lò đôi để hạ suất đầu tư mà nhanh khấu hao vì họ vẫn lo đến nguồn nguyên liệu.

1 2

Blog tags

No tags used